Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn Kho báu. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn Kho báu. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng

KHO VÀNG YAMASHITA : CUỘC CHIẾN GIỮA TỔNG THỐNG MARCOS VÀ TỈ PHÚ MANILA

Santa Romana , tay cựu tình báo ngầm khét tiếng với vai trò “người gác cổng” cho khối tài sản khổng lồ của CIA . Cuộc đời của ông nhiều lần gắn chặt với nỗi lo sợ về Tổng thống Marcos .

Tướng Mỹ kiểm tra một phần kho vàng Yamashita
Tướng Mỹ kiểm tra một phần kho vàng Yamashita

Có nhiều lời đồn thổi về mối quan hệ giữa Santy và Marcos. Có nguồn bảo rằng, 2 người này bắt đầu thân từ những năm đầu thập niên 1960, khi Marcos chưa lên làm tổng thống. Nhưng cũng có nguồn cho rằng Santy là bạn thân của Imelda khi bà còn là nữ hoàng sắc đẹp ở Leyte, thậm chí có nguồn còn nói Imelda từng là “mèo” của Santy.

Ở thời điểm này, Santy là mẫu đàn ông bất kỳ cô gái nào cũng mơ ước. Anh ta vừa cao lớn, đẹp trai, vừa mạnh mẽ, rất ga lăng với quý cô và quan trọng là... rất nhiều tiền.

Là người trực tiếp tra tấn tài xế của tướng Yamashita, Santy nhanh chóng giúp CIA khai quật toàn bộ số kho báu do tay tài xế này chỉ điểm. Từ đó, Santy trở thành người gác cổng cho các tài khoản vàng “đen” của CIA ở khắp nơi trên thế giới, với nhiều bí danh khác nhau. Khoảng năm 1970, tổng số tiền Santy đứng tên trên các tài khoản khác nhau lên đến 50 tỉ USD. Santy được hưởng phí hằng năm dựa trên tổng số tiền nắm giữ. Là người khôn khéo, hơn nữa, nghề tình báo giúp ông có một sự lựa chọn không ồn ào trong cuộc sống, Santy không bao giờ bước vào thế giới của những người nổi tiếng. Ở Philippines, người ta gọi ông là “The Man With No Name” (Người đàn ông không tên). Santy có một cuộc sống hoàn hảo, sở hữu nhiều căn nhà lớn ở Manila và Cabanatuan, và ông bao luôn một căn phòng suite suốt năm tại khách sạn Manila Hilton. Bên ngoài Philippines, chẳng ai biết đến cái tên Santy cả, trừ giới chủ ngân hàng. Và cũng chưa có bài báo nào viết về một “tỉ phú bí mật của Manila” cả.

Người được cho là Santa Romana (Santy)
Người được cho là Santa Romana (Santy)

Tại Philippines, tiền của Santy đưa Fernando Marcos lên ghế tổng thống vào năm 1965. Trong The Marcos Dynasty (Đế chế Marcos), tác giả Sterling & Peggy Seagrave mô tả vị tổng thống Philippines này “đã làm tất cả những gì có thể để hài lòng Mỹ và CIA trong việc mở rộng chiến tranh tại Đông Dương”. Marcos thuyết phục Nhà Trắng rằng ông có thể giúp “bán cuộc chiến tranh VN cho tất cả các quốc gia Đông Nam Á khác bằng cách dùng tiền của Santy để hối lộ lãnh đạo các quốc gia này”.

Khi ngồi vào ghế tổng thống, Marcos tiếp tục ủng hộ Mỹ ở chiến tranh Đông Dương. Đổi lại, Marcos đòi Nhà Trắng phải cam kết giữ vững cho ông ta ghế tổng thống. Marcos được giữ ở dinh Malacanang đến tận năm 1986 trước khi sụp đổ dưới triều Tổng thống Reagan.

Cuối nhiệm kỳ 4 năm đầu tiên, Marcos gặp khủng hoảng với giới truyền thông. Imelda bị báo chí tẩn một trận tơi tả vì xài một phát 3,3 triệu USD chỉ trong 1 ngày shopping tại New York năm 1968. Cùng thời điểm này, Imelda mở những tài khoản khủng tại City Bank ở Manhattan. Cũng tại nhà băng này, tài liệu thuế cho thấy rằng Santy cũng có những tài khoản lớn bằng tiền mặt và vàng thỏi.

Cùng thời gian này, CIA có thay đổi lớn trong đội ngũ lãnh đạo. Những người từ tổ chức tiền thân OSS từng nhúng tay vào các hoạt động tìm kiếm kho báu năm 1945 - 1947 dần bị chuyển đi, những nhân vật mới lên không nắm được toàn bộ số tài khoản Santy đang giữ. Từ nhiều năm nay, Santy được bảo vệ bởi những tay CIA cộm cán này. Giờ đây họ không còn tại vị để bảo bọc Santy, Marcos nắm ngay bối cảnh nhá nhem đó nên liên tục dọa dẫm, gây sức ép buộc Santy phải chuyển giao toàn bộ tài khoản.

Tổng thống Marcos
Tổng thống Marcos

Mệt mỏi sau 25 năm làm nghề “gác cổng”, Santy bắt đầu nghiện rượu và mất kiểm soát đối với Marcos. Bạo lực là một phần của lịch sử dinh Malacanang. Dinh này nổi tiếng với một căn phòng gọi là Black Room, nơi đây, nhiều người đã bị tra tấn và bị sát hại. Bất kỳ ai qua mặt tổng thống đều bị sát hại một cách ghê rợn, xác bị vứt ngoài vệ đường, tròng mắt bị móc ra và treo trên thân cây.

Trước những đòn tấn công liên tục của Marcos, Santy bắt đầu có những bước đi nhằm tự bảo vệ mình, bảo vệ tiền, vàng trước nguy cơ bị Marcos ra sắc lệnh tịch thu. Người được Santy tin tưởng là Tarciana Rodgriguez - cháu gái của Luz Rambano - tình nhân của Santy trong 3 năm cuối đời. Santy biến Tarciana thành thủ quỹ của tất cả các công ty bề nổi của mình, giao cho cô quản lý những tài khoản hàng tỉ USD tiền mặt, vàng thỏi, sổ gửi vàng, chứng khoán và nhiều tài sản khác trên toàn thế giới.

Sau khi Marcos ra tay cướp bức tượng Phật vàng và bắt nhốt, tra tấn Rosax để tìm ra kho báu, Santy bắt đầu cảm thấy sợ. Santy đem theo 43 triệu USD, kéo Luz đến First National City Bank (bây giờ là Citybank) để mở tài khoản. Số tiền này toàn mệnh giá nhỏ, khiến nhân viên ngân hàng phải đếm mất 6 ngày mới hoàn tất.

Santy cũng thuê 9 két riêng tại ngân hàng này để đựng tiền mặt và trang sức. Ngay trước ngày Marcos áp dụng thiết quân luật, Santy đã nhanh tay chuyển 800 triệu USD ra khỏi Philippines, từ First National City Bank Manila sang City Bank of New York.

Cuộc tranh giành kho báu Yamashita
Cuộc tranh giành kho báu Yamashita

Ngày 27.2.1973, Marcos cho quân triệu Santy đến dinh Malacanang. Trong phòng riêng của tổng thống, Santy bị ép phải ký vào một bản di chúc được lập sẵn, nội dung là Santy (với tất cả những tên gọi, bí danh giao dịch trước đây) đồng ý để lại toàn bộ bất động sản, tài khoản tiền mặt, vàng nén... ở các ngân hàng thế giới cho vợ là Julietta Huerto được toàn quyền sử dụng.

Bản di chúc này, về kỹ thuật thì Santy để lại tài sản cho người vợ đã ly thân (đạo Công giáo ở Philippines không cho phép ly dị), nhưng ai cũng hiểu, một khi Santy chết, Marcos sẽ dễ dàng cưỡng bức Huerto và các tài khoản sẽ nhanh chóng chuyển qua tay Marcos.

Chỉ 1 tháng sau, tháng 3.1973, Santy lại một lần nữa có cảm giác sợ hãi và ông chuyển 500 triệu USD từ Manila sang HSBC của Hồng Kông. Cùng thời gian này, các tài liệu ngân hàng cũng cho thấy ông cũng chuyển 1.640 tấn vàng đến một ngân hàng Hồng Kông, sau đó đến tiếp Sanwa Bank của Nhật. Không lâu sau đó, trong một chuyến đi đến Tacloban, Leyte, Santy uống quá nhiều và nói toạc toàn bộ nỗi sợ hãi của mình đang đối mặt. Lập tức, lính của Marcos đến bắt cả ông và cô bạn gái Luz vì tội danh “nói xấu sau lưng tổng thống” và giam giữ 2 người tại một căn cứ quân sự trên đảo Leyte.


Theo TNO

Xem tiếp : Kho vàng Yamashita




KHO VÀNG YAMASHITA : SỰ ĐẢM BẢO CHÍNH TRỊ CỦA MARCOS

Gia đình Tổng thống F.Marcos (Philipines) thời bấy giờ nổi tiếng với thói khoe khoang của cải . Tuy nhiên , tham vọng chính trị của ông còn lớn hơn tất cả .

F.Marcos có thói khoe khoang của cải
F.Marcos có thói khoe khoang của cải

Andrew Carnegie có lần nói: “Người đàn ông chết giàu là người đàn ông ngu”. Marcos không có thời gian để làm từ thiện bởi Nhà Trắng không ngừng tạo áp lực buộc ông phải dùng vàng “đen” của mình để cung cấp cho các mục tiêu chính trị.

Một trong các mục tiêu chính trị ấy có tên gọi là China Mandate (Sự ủy quyền Trung Quốc).

Gia đình Marcos cho biết: “Bill Casey nói với Ferdinand Marcos rằng Nhà Trắng sẽ giữ chiếc ghế tổng thống cho ông ta mãi mãi nếu ông ta đồng ý gửi số vàng “đen” của mình vào nhà băng dưới sự chỉ định của CIA”.

Trong China Mandate, theo tác giả Sterling và Peggy Seagrave viết trong Gold Warriors: Năm 1972, gia đình Marcos, Tổng thống Mỹ Nixon, Ngoại trưởng Kissinger đã thỏa thuận mật với Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai để giữ Trung Quốc ra khỏi cuộc đụng độ với Mỹ về vấn đề Đài Loan. Để đổi lại, Trung Quốc sẽ được quyền sử dụng một lượng vàng lớn từ Marcos. 

Sterling và Peggy Seagrave cũng đưa ra những bằng chứng từ tài liệu giao dịch của phía ngân hàng cho thấy trong khoảng thời gian này, một lượng vàng rất lớn đã được chuyển đến các ngân hàng của Trung Quốc đại lục, trong đó có các tài khoản mang tên của Santa Romana, Ferdinand và Imelda Marcos và nhiều thành viên khác trong gia đình giàu có này.

Vì sao những nhân vật vốn luôn to miệng hô hào chống cộng, nay bỗng dưng chuyển một lượng lớn vàng đến các ngân hàng của một quốc gia cộng sản như Trung Quốc? Không có một lý do nào thuyết phục để có thể tin được, nhất là vào cao trào của Chiến tranh lạnh. Và vì thế, chỉ có thể giải thích được về một China Mandate mà chính quyền Tổng thống Nixon đã thỏa thuận với Bắc Kinh.

Chu Ân Lai đổi chiến tranh lấy Vàng
Chu Ân Lai đổi chiến tranh lấy Vàng

Một tài liệu nữa cũng nói đến việc “đổi chác” giữa Tổng thống Mỹ Richard Nixon và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông về vấn đề này. Trong The Secret Gold Treaty (Thỏa ước mật về vàng), tác giả David Guyatt dẫn chứng: “Một giấy chứng nhận do Ngân hàng Bank of England phát hành ngày 15.12.1972 mang tên Mao Trạch Đông là chủ tài khoản với số tiền lên đến 16,62 tỉ USD”. Một cá nhân trong đường dây chuyển vàng của Marcos cho rằng Nixon đã trao cho Trung Quốc 200.000 tấn vàng để đổi lại một thỏa thuận, rằng Trung Quốc không được có bất kỳ hành vi bành trướng lãnh thổ nào trong vòng 50 năm”.

Và kèm theo nhận định: “Đã từng chứng kiến cảnh Trung Quốc xua quân tràn qua lãnh thổ Triều Tiên trong chiến tranh Triều Tiên 1950 - 1953, phía Mỹ sợ rằng rất có thể Trung Quốc sẽ tấn công Đài Loan và Philippines, từ đó dẫn đến cuộc chiến tranh hạt nhân”.

Năm 1971 - 1972, nền kinh tế Trung Quốc lâm vào cảnh cực kỳ bi đát. Ngân khố của Bắc Kinh không có lấy một đồng dự trữ ngoại tệ. Chưa hết, cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế giới càng khiến kinh tế Trung Quốc lao đao. Ở các vùng quê, dân chúng bắt đầu chết đói.

Giới phân tích của CIA và Lầu Năm Góc đánh giá tình hình và nhận định chắc chắn Trung Quốc sẽ đánh Đài Loan. Cuộc đụng độ này nếu xảy ra chắc chắn sẽ dẫn đến chiến tranh hạt nhân. Một cách có thể tháo được ngòi nổ cuộc chiến này, như lời đề nghị của một nhà phân tích CIA, là phải giúp Bắc Kinh ổn định được nền kinh tế. Nguồn tài chính lấy ở đâu ra? Không thể dùng ngân sách, Nhà Trắng quyết định dùng kho vàng “đen” của Marcos để hạ nhiệt cuộc chiến. Nếu Mỹ giúp Trung Quốc giải quyết được bài toán kinh tế thì các bên sẽ thiết lập được một giai đoạn hòa bình và bản thân Philippines cũng có lợi.

Để thực hiện China Mandate, Nixon và Kissinger đã bí mật đề nghị Mao Trạch Đông sẽ có một số lượng vàng trị giá 68 tỉ USD (con số Nhà Trắng ước lượng Marcos có lúc bấy giờ) lần lượt chuyển vào các ngân hàng Trung Quốc trong nhiều năm. Có tài chính, hệ thống ngân hàng Trung Quốc trở nên mạnh mẽ, nền kinh tế dần ổn định, và vấn đề đánh Đài Loan không còn là chủ đề nóng. Mỹ đã tránh được một cuộc xung đột thấy rõ với Trung Quốc. Và Marcos được Nhà Trắng ve vuốt và giữ yên ghế tổng thống thêm một thời gian dài.

Tổng thống Nixon
Tổng thống Nixon

Năm 1974, Imelda và con trai Bong-Bong đã có chuyến thăm cấp nhà nước đến Bắc Kinh. Báo chí loan tải tấm ảnh Mao Trạch Đông vui vẻ đứng giữa 2 mẹ con Imelda (ảnh) - một tư thế chụp ảnh hiếm thấy ở Mao Trạch Đông. Năm sau, đến lượt Marcos viếng thăm Trung Quốc, và sau đó, em vợ ông là Kokoy Romualdez trở thành đại sứ Philippines tại Bắc Kinh.

Phía gia đình Marcos khẳng định rằng, China Mandate chính là cơ sở thiết lập nên chuyến thăm lịch sử của Nixon tới Bắc Kinh và thiết lập quan hệ ngoại giao với CHND Trung Hoa.

Các tài liệu cho thấy bắt đầu từ năm 1972 và kéo dài những năm sau đó, vàng của Marcos bắt đầu chảy vào các ngân hàng Trung Quốc, trong đó có Po Sang Bank và Bank of China ở Hồng Kông và những ngân hàng Trung Quốc khác ở Hạ Môn. Những tài liệu giao dịch cho thấy nhiều tài khoản lớn ở các ngân hàng này mang tên Romana Santa, Fernando Marcos, Imelda Marcos và các tên khác. Có tài liệu cho thấy một lá thư của một tay môi giới vàng đòi được chi trả hoa hồng sau khi hoàn tất việc chuyển vàng. Gia đình Marcos thường xuyên đến Xiamen, trong đó có việc đến dự lễ khánh thành tòa nhà mới cho ngân hàng của Trung Quốc nơi họ đang có tài khoản.

Một bằng chứng nữa vào năm 2000, khi Imelda bị chính quyền Hồng Kông cáo buộc đã thuê một phụ nữ Trung Quốc truy cập vào các tài khoản vàng của mình bằng cách hối lộ quan chức ngân hàng. Tháng 12.1999, các công tố viên Hồng Kông cho biết, Imelda đã đồng ý trả 35% cho bất kỳ ai giúp bà rút được 2,5 tỉ USD từ các tài khoản ở Bank of China, HSBC và các ngân hàng khác của Trung Quốc tại Hạ Môn.


Theo TNO

Xem tiếp : Kho vàng Yamashita



KÌ LẠ BIỂN XẺ ĐÔI

Không chỉ xuất hiện trong Kinh Thánh , chuyện kì lạ này còn xuất hiện thật ở Hàn Quốc .

Biển xẻ đôi ở Hàn Quốc
Biển xẻ đôi ở Hàn Quốc

Nhiều người khi nhắc tới con đường vượt biển nổi tiếng đều nghĩ ngay đến "thần tích" tìm về vùng đất Thánh của người Do Thái do nhà tiên tri Moses dẫn đầu. Trong truyền thuyết, khi bị quân đội Ai Cập truy đuổi, Moses đã dùng quyền năng tạo ra con đường đất xuyên biển Đỏ để giải cứu dân tộc mình.

Cho đến nay, nhiều người vẫn nghĩ rằng những con đường như thế chỉ xuất hiện trong thần thoại. Thực tế đã chứng minh điều ngược lại: trên thế giới hoàn toàn có một địa điểm giống như vậy. Đó chính là con đường đất đá rộng lớn nối liền hai hòn đảo Jindo và Modo ở Hàn Quốc cùng hiện tượng biển tách làm đôi đầy bí ẩn và hấp dẫn.

Con đường giữa biển khơi bao la này dành phần lớn thời gian trong năm ngủ say dưới đại dương sâu thẳm. Tuy nhiên cứ hai đến ba lần một năm (thường vào khoảng tháng 3 và tháng 6), nó lại nhô lên mặt nước và trở thành điểm du lịch hút khách bậc nhất Hàn Quốc.

Niềm tự hào du lịch của Hàn Quốc
Niềm tự hào du lịch của Hàn Quốc

Theo tiết lộ của người dân địa phương, con đường có chiều dài khoảng 2,9 km và rộng khoảng 40 m. Những ngày xảy ra hiện tượng biển tách làm đôi để lộ ra con đường giữa biển, nơi đây lại đón hàng trăm nghìn lượt du khách ghé thăm. Họ cùng nhau đi trên con đường kỳ ảo, thong thả ngắm cảnh vật, chụp ảnh lưu niệm hay thậm chí là bắt sò, ốc, rong biển... mà không hề sợ hãi việc con đường bị sụt xuống hay xảy ra bất trắc gì.

Con đường kỳ lạ cùng hiện tượng vô cùng thú vị của tự nhiên này trở thành kho báu bí mật của Hàn Quốc cho đến năm 1975, Pierre Randi - vị đại sứ Pháp lúc bấy giờ - trải nghiệm cảm giác trông thấy biển chia làm đôi. Ông đã mô tả lại những điều trông thấy trên một tờ báo Pháp và gọi con đường này là "phép lạ của Moses". Câu chuyện của Pierre thời đó đã gây ra nhiều tranh cãi nảy lửa trong giới khoa học cũng như người dân ở châu Âu.

Nhiều người lúc đó coi Pierre là kẻ nói dối. Mọi chuyện chỉ kết thúc khi các nhà khoa học Pháp tới Hàn Quốc nhằm "vạch trần" Pierre. Cuối cùng, chính họ tận mắt chứng kiến hiện tượng độc nhất vô nhị này và phải thừa nhận sự tồn tại của con đường giữa biển.

Lý do đến tận năm 1975 hiện tượng biển tách làm đôi mới được dư luận thế giới biết đến là người dân bản địa đã quen với điều này. Họ quá tin vào một truyền thuyết cổ xưa nên cảm thấy đây là một điều hoàn toàn bình thường và không có gì phải gây ồn ào hay cần thông báo cho tất cả mọi người biết.

Khung cảnh ngoạn mục
Khung cảnh ngoạn mục

Theo truyền thuyết của người Hàn Quốc, thời xưa đảo Jindo người dân thường bị hổ dữ quấy phá. Chúng vào làng và ăn thịt người dân. Trước tình cảnh đó, mọi người phải bỏ chạy sang đảo Modo. Bà lão tội nghiệp Bbyong là người duy nhất còn sót lại trong chuyến di cư đó.

Trong những ngày sống ở đảo Jindo cùng nỗi sợ hãi hổ dữ, Bbyong ngày đêm cầu nguyện thần biển cứu giúp. Động lòng trước hoàn cảnh tội nghiệp của người phụ nữ, thần biển Yongwang đã báo mộng sẽ có "cầu vồng trên biển" giúp bà chạy thoát.

Sáng hôm sau, điều kỳ diệu đã xảy ra khi Bbyong ra tới biển. Nước bỗng rẽ làm đôi và một con đường xuất hiện giữa lòng đại dương bao la. Nhờ con đường nối với đảo Modo này mà bà lão đã được đoàn tụ cùng gia đình.

Ngày nay, những người dân Hàn Quốc vẫn kể cho con cháu đời sau và du khách về câu chuyện thần thoại này. Tuy nhiên, trong mắt các nhà khoa học truyền thuyết là bằng chứng không bao giờ đủ sức thuyết phục. Theo Kevan Moffet -  giáo sư dự khuyết chuyên ngành khoa học địa chất tại đại học Texas, Mỹ thủy triều chính là một trong những nguyên nhân tạo ra hiện tượng mặt biển chia đôi.


Theo VNE


Chủ đề liên quan : Chuyện kì bí , kì lạ , Hàn Quốc , biển xẻ đôi


KHO BÁU VUA HÀM NGHI - KỲ 2

Không chỉ là giai thoại , Sự thật về Kho báu vua Hàm Nghi ngày càng được hé lộ .

Hướng Hóa , Quảng Trị
Hướng Hóa , Quảng Trị

Đầu những năm 1980, đồng bào dân tộc Vân Kiều ở gần cầu Đắkrông, Quảng Trị (cạnh Nghĩa trang Trường Sơn hiện nay), trong khi đi bắt cá khe đã tình cờ phát hiện trong một hốc cây lớn chìm dưới suối cả một kho tàng gồm toàn tiền cổ bằng vàng ròng và những thoi vàng nặng 1 lượng.

Một đoàn khảo sát của Bảo tàng Trung ương cũng tình cờ phát hiện được tại bản Sê Bu, xã Hướng Phùng, Hướng Hóa, Quảng Trị một chiếc áo dài màu đen, lót lụa đỏ, thêu kim tuyến và hình rồng 5 móng được cho là áo bào của Vua Hàm Nghi. Thời nhà Nguyễn, chỉ có vua mới được thêu rồng 5 móng.
Một số tài liệu trước đó từng ghi nhận, trước khi chia tay để thoát sang Châu mường Mahasay (tỉnh Khăm Muộn, Lào), Vua Hàm Nghi đã cởi áo bào tặng cho một người Vân Kiều tên là Ku Xin, vì đã có công giúp đỡ đoàn hộ giá.

Tại thôn 5, xã Hải Phúc (huyện Đắkrông), Bảo tàng tỉnh Quảng Trị cũng phát hiện được trong một gia đình Vân Kiều có chiếc mâm đồng cổ rất lớn chạm 2 con rồng 5 móng và 5 chữ Hán: Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh.

Ở Quảng Bình, ông Thái Xuân Bạ, nguyên Phó chánh án Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa cho biết, khoảng những năm 50, bố ông tham gia dân quân xã, từng được huy động đi thu gom "vàng Vua Hàm Nghi" do dân xã Trung Hóa phát hiện.

Tổng cộng có 3 nong phơi lúa tiền chữ "Đại" bằng vàng ròng, mỗi đồng nặng 12 chỉ được gom về sân nhà ông Bạ trước khi đem giao nộp cho chính quyền. Ông Bạ và một số trẻ con hàng xóm đã "nhón" đi mỗi người khoảng 10 đồng để dành... đánh đáo.

Tại thôn Đặng Hóa, Hóa Sơn, huyện Minh Hóa, năm 1956, sau trận lụt lớn, người dân trong xã đã phát hiện và vớt được vô số tiền vàng từ một hốc đá trôi ra suối, thu được hàng tạ, đem nộp lại toàn bộ cho Nhà nước.

Gần hơn, giữa tháng 4/2003, một đám trẻ chăn trâu đã tình cờ phát hiện được tại hang Lèn, xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình một chiếc tráp gỗ, bên ngoài khắc chữ Hán và hoa văn nhũ vàng rất đẹp. Đưa xuống núi, chiếc tráp đã tự động mục rã ra.

Hang Lèn
Hang Lèn

Bên trong tráp có một quả cau bằng kim loại màu đen, hai lư hương bằng đồng và 2 chìa khóa kiểu cổ. Một thanh niên trong làng đã lừa đám trẻ lấy mất quả cau màu đen (nghi chế tác bằng đồng đen). Hai lư hương và hai chiếc chìa khóa, Sở Văn hóa Thông tin đã kịp thời thu giữ để giám định.

Gần 1 năm sau, ngày 30/12/2003, trong khi đào đất trên ruộng, người dân Văn Hóa đã bất ngờ đào được hàng chục chum vại đựng đầy tiền cổ triều Nguyễn được chôn cách mặt đất chỉ chừng 0,6m. Suốt buổi chiều và đêm hôm đó, toàn bộ số tiền cổ này đã được thương lái đến mua và đem đi mất, trước khi chính quyền địa phương phát hiện và ngăn chặn.

Thông tin chi tiết về vụ việc, chúng tôi đã có dịp đề cập đầy đủ trong bài báo "Quảng Bình: Hàng tấn tiền cổ được phát hiện và… biến mất" (tác giả Hồng Lam - Tâm Phùng) đăng trên Chuyên đề ANTG phát hành ngày 3/1/2004.

Đầu năm 2009, UBND huyện Tuyên Hóa, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Quảng Bình cũng đã tiếp nhận 3 đồng tiền vàng của bà Nguyễn Thị Liên, trú tại thôn Tân Sơn, xã Sơn Hóa, Tuyên Hóa. Con dâu bà Liên đã phát hiện 3 đồng tiền cổ này tại khe nước Trọt Su trong xã.

Những đồng tiền này đều đúc bằng vàng 999,9%, mỗi đồng nặng 5 chỉ vàng. Có 2 đồng đường kính 2,8cm, đồng còn lại đường kính 2,4 cm. Khác kích thước nhưng giống nhau về cách trang trí, một mặt có họa tiết mặt trời, mặt kia có 4 chữ "Hàm Nghi thông bảo". Rất có thể, đây là những đồng tiền được đúc dập sau khi Vua Hàm Nghi đã trên đường bôn tẩu.

Một vài di vật được tìm thấy
Một vài di vật được tìm thấy


Một chứng cứ xác đáng được nhiều người biết nữa xuất hiện vào giáp tết Nguyên đán năm 2007. Nhà báo Văn Cầm Hải và nhóm làm phim thời sự của VTV1 khu vực Thừa Thiên - Huế đã phát hiện và quay được tại xã Phú Gia, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh, một loạt những di vật của Vua Hàm Nghi.

Kho báu gồm một cặp kiếm, 6 hoàng bào, một cặp voi vàng, cau, trâu vàng... vẫn được gìn giữ nguyên vẹn trong một miếu thờ có 3 chìa khóa, do 3 người cất giữ. Miếu cất giữ những báu vật này nằm cách căn cứ Sơn phòng xưa chỉ chưa đầy 2km.

Rõ ràng, kho báu Vua Hàm Nghi là một hiện thực lịch sử, không chỉ là huyền thoại. Những phần kho báu đó chôn giấu những đâu, chôn giấu như thế nào là một bí ẩn lớn của lịch sử, chưa ai tìm ra lời đáp. Nhưng chắc chắn nó không phải là câu chuyện hoang đường

Theo Vietnamnet



Chủ đề liên quan : kho báu , kho báu vua Hàm Nghi , huyền thoại kho vàng


KHO BÁU VUA HÀM NGHI - KỲ 1

Hàm Nghi , Thành Thái , Duy Tân nổi tiếng là những vị vua yêu nước của triều Nguyễn . Vua Hàm Nghi là người phát động phong trào Cần Vương , kêu gọi toàn dân đánh giặc . Và trên đường đi ẩn danh để duy trì phong trào , tương truyền ông đã mang theo một lượng kho báu cực lớn và cất giấu rải rác .

Vua Hàm Nghi
Vua Hàm Nghi

Dấu tích thư tịch…

Sau Hòa ước Giáp Tuất 1874, trước sự uy hiếp liên tục và ngày càng gia tăng của thực dân Pháp, Vua Tự Đức đã chuẩn y cho xây dựng một loạt các căn cứ Sơn phòng ở hầu khắp các tỉnh miền Trung. Mục đích ban đầu là để phòng ngừa sự quấy nhiễu của "người Man" (người dân tộc thiểu số) từ Tây Nguyên tràn xuống.

Nói cách khác, Sơn phòng không gì khác hơn là một loại thành lũy quy mô vừa phải, có quân đồn trú, làm nhiệm vụ như biên phòng ngày nay ở khu vực sơn cước phía tây đất nước.

Nhưng mục đích sâu xa, nhà Nguyễn muốn chuẩn bị trước một loạt căn cứ hậu lộ nhằm có nơi rút lui và tổ chức kháng chiến lâu dài, nếu Kinh thành Huế bị Pháp tấn công không thể giữ được.

Trong số đó, sách “Đại Nam thực lục chính biên” cho biết, theo chỉ dụ của Tự Đức, vùng Cùa, Cam Lộ, Quảng Trị được chọn làm đất lập Nha Kinh lý Sơn phòng Quảng Trị, tiền thân của thành Tân Sở sau này. Nhân lực xây dựng lấy từ số phạm nhân đã được phân loại.

Ấn tín Quốc Gia bằng vàng đúc năm Gia Long
Ấn tín Quốc Gia bằng vàng đúc năm Gia Long

Tháng 7/1883, Vua Tự Đức băng hà. Một tháng sau, Pháp đã đưa tàu chiến chiếm cứ cửa biển Thuận An, từ đó kéo quân xộc thẳng về Kinh đô và đồn trú ngay trên đất Huế. 

Tướng lĩnh Pháp ngang nhiên ra vào hoàng thành, ngang nhiên nhúng tay can thiệp vào việc triều chính của đất nước. Quốc gia bên bờ suy vong, triều đình Huế phân hóa nghiêm trọng.

Trong ba "cố mệnh đại thần" được di chiếu của Tự Đức giao trọng trách Phụ chánh đại thần thì Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường là chủ soái của phe chủ chiến, trong khi Trần Tiễn Thành cầm đầu phái chủ hòa.

Tôn Thất Thuyết và phe chủ chiến đã thẳng tay loại trừ bất kỳ ai, kể cả vua, nếu dám chống lại hoặc cản trở chủ trương chống Pháp. Trong vòng một năm, 3 tân vương Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc đã lần lượt bị truất ngôi và bị giết chết theo lệnh của Tường, Thuyết.

Việc chuẩn bị cho cuộc kháng chiến càng trở nên gấp rút. "Quốc triều chính biên toát yếu" chép, cuối năm 1883, dưới triều Vua Kiến Phúc, Cơ mật Viện nhà Nguyễn đã cho "dời Nha Sơn phòng Quảng Trị tới làng Bảng Sơn (nay là xã Cam Nghĩa), lỵ sở phủ Cam Lộ cũng dời về trong Sơn phòng".

Tổng chỉ huy xây dựng Sơn phòng Tân Sở được chính cố mệnh đại thần Nguyễn Văn Tường đảm trách, có sự phụ tá đôn đốc của một loạt trọng thần như Phò mã Đặng Huy Cát, Tham biện Tôn Thất Lệ, Phó sứ Sơn phòng Nguyễn Tuy...

Cả hai cuốn "Đại Nam thực lục chính biên" và "Quốc triều chính biên toát yếu" đều có những ghi nhận thống nhất: Đầu năm 1885, về cơ bản, các công trình phòng ngự quân sự đã xem như hoàn tất. Thành Tân Sở dài 548m, rộng 418m, tổng diện tích khoảng 23 hécta bao quanh bởi một vòng hào khá sâu, rộng 10m.

Triều đình cho dựng thành, trồng tre, đào hào làm chiến lũy, đồng thời cho chở lương thực từ các tỉnh Hà - Nam - Ninh của đồng bằng Bắc Bộ theo đường biển vào Cửa Việt rồi đưa lên Tân Sở.

Từ kinh đô, rất nhiều vàng bạc, khí giới cũng được đốc thúc đưa ra chôn giấu tại đây. Riêng vũ khí, số lượng chuyển đi rất lớn, mất ròng rã 3 tháng mới hoàn tất. 

Theo dự định của Tôn Thất Thuyết, 1 triệu lượng (khoảng 33 tấn) vàng ròng, bạc nén sẽ được chuyển từ kho Phủ Nội vụ trong Kinh thành Huế lên Tân Sở. Nhưng mới chuyển được 1/3, khoảng 11 tấn thì giao tranh với Pháp đã nổ ra tại kinh thành nên phải tạm ngừng.

Đêm mùng 5, rạng sáng ngày 6/7/1885, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đem quân tấn công trại lính Pháp ở đồn Mang Cá. Sau một ngày giao tranh, quân nhà Nguyễn thất bại. 

Ấn Hoàng đế chi tỷ bằng Bạch ngọc , năm Minh Mạng
Ấn Hoàng đế chi tỷ bằng Bạch ngọc , năm Minh Mạng

Ngày 9/7, Tôn Thất Thuyết đã hộ giá (thực chất là bắt ép) Vua Hàm Nghi - mới lên ngôi chưa đầy 1 năm - rời Hoàng thành vượt lên Tân Sở. Pháp một mặt cho quân bộ đuổi theo, một mặt cho thủy quân kéo tàu ra biển Nhật Lệ (Quảng Bình) chặn đường.

Tôn Thất thuyết tự lượng thành Tân Sở không đủ sức chống đỡ nên vội phò giá Hàm Nghi vượt lên phía thượng ngàn Đắkrông - Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, từ đó vượt sang Châu mường Mahasay của Lào.

Khi Phan Đình Phùng hưởng ứng chiếu Cần Vương khởi nghĩa, lập xong căn cứ Vụ Quang, Vua Hàm Nghi lại vượt biên giới về đóng tại căn cứ núi Ấu (Hương Khê, Hà Tĩnh).

Thực dân Pháp đã xua đám tay sai do Tổng đốc Hoàng Cao Khải chỉ huy đuổi riết. Đoàn tùy tùng lại tiếp tục hộ giá Vua Hàm Nghi vượt đèo Quy Hợp vào đất Tuyên Hóa, Quảng Bình. Có thời gian, đoàn ngự giá hạ trại tại chân núi Mã Cú, nay thuộc địa phận xã Hóa Sơn, Minh Hóa, Quảng Bình - chính là nơi sau này Nguyễn Hồng Công đào tìm kho báu.

Rời kinh thành, ngoài châu báu tùy thân, Vua Hàm Nghi còn mang theo kim ấn "Ngự tiền chi bảo" - bảo vật truyền ngôi của nhà Nguyễn. Trước lúc rời Tân Sở, ngày 13/7/1885, Vua Hàm Nghi đã tự tay đóng ấn "Ngự tiền chi bảo" lên những tờ Hịch Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và dân chúng mọi miền đứng lên chống Pháp.

Thời gian Vua Hàm Nghi và đoàn tùy tùng lưu lại Tân Sở rất ngắn, chỉ chừng 4 hoặc 5 ngày. Ngay sau đó, Pháp đã chiếm Sơn phòng Tân Sở và san phẳng nơi này.

Với thời gian gấp gáp như vậy, lại liên tục trong tình trạng bị truy đuổi ráo riết một thời gian dài, gần như chắc chắn Vua Hàm Nghi và đoàn hộ giá không thể mang theo hết số bạc vàng châu báu, tiền bạc đã tập kết về Tân Sở từ đầu năm 1885. 

Ngoài một phần bị quân Pháp cướp lại, số mang theo được chắc chắn sẽ phải chia nhỏ, chôn giấu lại từng phần ở nhiều nơi dọc đường bôn tẩu.

Ngày 26/9/1888, tại khe Tá Bào, Tuyên Hóa, Quảng Bình, tên phản bội Trương Quang Ngọc đã dẫn binh giết sạch đoàn hộ giá, bắt Vua Hàm Nghi dâng cho giặc.

Trương Quang Ngọc, rồi thực dân Pháp đã lục xét đào xới khắp bốn chung quanh nơi vua hạ trại hòng tìm cướp báu vật mang theo, nhưng chỉ uổng công. 

Không ngọc tỉ, kim ấn, không bạc nén, vàng thoi, trong người đức vua chỉ còn lại một ít bạc lẻ và vài ba tấm bản đồ đánh dấu một số kho báu được chôn lại ở nhiều nơi.

Kẻ ngoài cuộc có cầm bản đồ trên tay cũng không tài nào xác định nổi vị trí của những tấm bản đồ vẽ sơ sài ấy... Trong khi đó, Vua Hàm Nghi thì trước sau không chịu nói thêm lấy nửa câu.





KHO VÀNG YAMASHITA : ROSAX VÀ TỔNG THỐNG MARCOS

Lẩn trốn trong “địa bàn” của một Tổng thống , Rosax nhanh chóng bị phát hiện chỉ vài ngày sau tại Cabanatuan .

Rosax và tượng phật vàng
Rosax và tượng phật vàng 

Tiên lễ hậu binh, Rosax được đề nghị trả 3 triệu peso với điều kiện phải công khai xác nhận bức tượng Phật bằng đồng chính là bức tượng ông tìm thấy.
Cuối tháng 4, được chánh án tòa tối cao đảm bảo tính mạng, Rosax trở lại Baguio để xác nhận bức tượng.

Cùng trở về với Rosax có 4 vệ sĩ và 2 công tố viên, luật sư riêng của Rosax cùng một đội ngũ phóng viên báo chí, truyền hình. Tại tòa, Rosax dũng cảm (hay ngu xuẩn) tuyên bố bức tượng Phật là giả vì khác màu, nét mặt khác và cái đầu không xoay được. Thêm nữa, bức tượng cũng không có những dấu khoan nhỏ trên cổ.

Giới báo chí lặng người vì một người đàn ông dám thách thức quyền lực của cả gia đình Tổng thống Marcos. Tuy nhiên, đảng Tự do đối lập lại phấn khích trước những lời tuyên bố đó. Họ xem coi đây là cơ hội để đánh bại Marcos trong cuộc tranh cử tổng thống sắp tới.

Lãnh đạo đảng đối lập thuyết phục Rosax ra làm chứng ở Thượng viện trong cuộc điều tra “Vụ bức tượng Phật bằng vàng”. Ngày 4.5.1971, Rosax cung cấp toàn bộ chứng cứ trước nghị viện. Tổng thống Marcos lập tức lên tiếng đây là một âm mưu chính trị nhằm tấn công ông ta và đe dọa sẽ có một cuộc trả đũa.

14 ngày sau, Rosax trở về ẩn nấp ở Cabanatuan thì một lần nữa lại bị truy lùng và bắt giữ. 3 mật vụ của Marcos mặc thường phục đã bắt và đưa Rosax đến nhà một sĩ quan cảnh sát, đánh đập dã man. Trong bóng tối lờ mờ, một viên cảnh sát đưa cho Rosax xem tấm hình của vợ, con và dọa: Nếu còn muốn gặp lại họ, ông phải cung cấp tên những nghị sĩ đã xúi ông ra làm chứng ở Thượng viện, và phải khai chỗ cất giấu kho vàng. Rosax từ chối, lập tức ông bị chích điện ở khắp người, và bị gí bỏng bởi tàn thuốc lá.

Đám cảnh sát tiếp tục đưa Rosax đến một khách sạn ở Angeles City. Tại đây, cảnh sát giam và tra tấn ông liên tục trong 2 tuần lễ. Lần này ông bị đánh vào đầu và mặt bằng gậy cao su cho đến khi ngất. Đến giờ, mắt trái của ông bị mù. Những kẻ tra tấn buộc ông phải ký vào một tờ giấy xác nhận là việc lục soát nhà ông đã diễn ra một cách ôn hòa, và những binh sĩ lục soát không hề mang vũ khí.

Một hôm, Rosax bị đưa trở lại tòa án ở Baguio. Đêm đó, ông mở được khóa cửa sổ và chạy đến trốn ở nhà người chị. Ông gọi điện cho một thượng nghị sĩ, trình bày những việc đã xảy ra và một lần nữa lại được yêu cầu làm chứng trước Thượng viện. Rosax đã làm điều đó vào ngày 30.6.1971, tố cáo hết những gì đã xảy ra với ông.

Đến đầu tháng 7, Rosax lại bị bắt vì “không đến tòa trình diện vì bị cáo buộc tàng trữ vũ khí trái phép”. Ông bị tuyên án phạt tù vì không xuất hiện trong trát gọi hầu tòa trước đó. Sau 1 tháng ở tù, ông được bảo lãnh tại ngoại bởi một luật sư do thượng nghị sĩ Sergio Osmena Jr - lãnh đạo đảng Tự do đối lập, có cha từng làm tổng thống Philippines, cử đến. Rosax được đưa lên máy bay riêng chở đến Plaza Miranda, nơi ông Osmena yêu cầu Rosax nói chuyện trong một cuộc tuần hành chính trị tối hôm đó.

Tổng thống Ferdinand Marcos
Tổng thống Ferdinand Marcos

Cuộc tuần hành thu hút một đám đông khổng lồ với nhiều lãnh tụ đối lập. Rosax được dặn ngồi yên trên một chiếc xe cho đến khi được yêu cầu bước ra sân khấu. Vài phút sau, ai đó ném 2 quả lựu đạn lên sân khấu. Đám đông hỗn loạn. 10 người thiệt mạng và 66 người khác bị thương, trong đó có cả thượng nghị sĩ Osmena. Nhiều nguồn tin nghi ngờ vụ ném lựu đạn này do Marcos ra tay. Trong khi đó, Marcos đổ lỗi cuộc tấn công là do phe cộng sản. Marcos đình chỉ lệnh quyền được miễn tố và ra lệnh bỏ tù nhiều đối thủ chính trị.

Hoảng sợ, Rosax trốn biệt khỏi Manila trong suốt 12 tháng. Khi trở về nhà vào tháng 7.1972, ông lập tức bị 2 mật vụ canh trước nhà bắt giữ. Họ đưa Rosax đến một căn cứ hải quân ở tỉnh Zambales và giam giữ ông tại đây. Những câu hỏi thẩm vấn xoay quanh Rosax vẫn là nơi phát hiện tượng Phật vàng ở đâu?
Tháng 1.1973, Rosax lại thua trong phiên tòa phúc thẩm xử tội tàng trữ vũ khí trái phép. Rosax bị đưa đến nhà tù Baguio, tại đây, ông ít nhất 2 lần bị đánh đập và tra vấn địa điểm hầm chứa vàng. Sau khi thụ án gần 2 năm, Rosax ra tù và trở về nhà.

Không thể bắt ép và thuyết phục Rosax hợp tác, Marcos cho người nhổ từng cái răng của Olimpio Magbanua - người cộng tác với Rosax trong việc đào bới. Anh này không chịu nổi và khai nơi cửa vào đường hầm.

Một ngày năm 1974, nhân viên Bệnh viện Baguio nhìn thấy các binh sĩ khiêng ra từng hòm nặng, mỗi hòm cần 4 - 6 người khiêng. Có hòm vỏ gỗ bên ngoài đã mục nát, bị vỡ và làm rơi ra 3 thanh vàng to cỡ 1 tút thuốc lá, nặng tầm 75 kg. Các nhân viên bệnh viện ước tính mỗi ngày có 5 hòm như thế được đưa lên xe tải trong suốt quãng thời gian dài, ước tính khoảng 3.600 hòm, tổng cộng 10.800 thanh vàng nặng 75 kg mỗi thanh.

Rosax biết quân đội đã tìm ra kho báu của ông và đã đánh cắp hết số vàng ông tìm thấy. Năm 1976, đầu hàng số phận, ông đưa gia đình đến một nơi bí mật và họ ở đó yên ổn trong 10 năm. Rosax xuất hiện trở lại vào năm 1986, sau khi Tổng thống Ferdinand Marcos và bà vợ Imelda Marcos bị chính quyền Tổng thống Ronald Reagan truất phế và đưa đi lưu vong ở Hawaii. Lúc này, Rosax trở lại bắt đầu cho một vụ kiện lớn nhất trong lịch sử các vụ kiện dân sự, yêu cầu Marcos trả lại số vàng bị cướp.

Sau nhiều năm đeo đuổi vụ kiện, năm 1998, tòa án tối cao Hawaii đã tuyên phía Imelda Marcos (lúc này cựu Tổng thống Marcos đã qua đời) phải bồi thường cho phía Roger Rosax 22 tỉ USD, là số tiền chiếm đoạt từ bức tượng Phật vàng và số vàng Rosax tìm kiếm được. Đây là mức bồi thường án dân sự lớn nhất trong lịch sử thế giới.


Theo TNO

Xem tiếp: Kho vàng Yamashita



KHO BÁU NGƯỜI CHĂM - KỲ 3

Về thăm thôn Thành Sơn Tây (xã Hoài Châu, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định) . Hàng chục năm nay, người dân vẫn rỉ tai nhau, trên Hố Giang có kho vàng của vua Chăm Pa.

Toàn cảnh Hố Giang
Toàn cảnh Hố Giang

Bí ẩn về "hòn đá chữ"

Hố Giang là một địa điểm nằm trong dãy núi ở phía Tây thôn Thành Sơn Tây. "Hòn đá chữ" là một tảng đá tự nhiên nằm giữa dòng chảy của suối Hố Giang, chỉ lộ thiên vào mùa nước cạn.

Mặt phẳng của "hòn đá chữ" này rộng khoảng hơn 2m, dài hơn 3m. Gọi là "hòn đá chữ" vì trên mặt phẳng hòn đá có những dòng chữ Phạn ngữ được khắc gần như đặc kín. Có tổng cộng 15 hàng chữ, nhưng do bị nước xói mòn nên phần lớn chữ đã bị bào mòn, sáu dòng đầu đã bị mất nét và mất từng đoạn, chín dòng sau cũng bị mờ và bị mất nét khá nhiều, nên không thể đọc được.

Quanh "hòn đá chữ" còn vô số những dấu vết có hình dáng như bàn chân của một người và nhiều dấu vết, nhiều lỗ tròn trên bề mặt phiến đá. Người dân trong vùng cho rằng đó là dấu chân và dấu gậy của người khổng lồ ngày xưa gánh đất, vật liệu đi xây kho báu.

Hòn đá Chữ
Hòn đá Chữ

Dân gian truyền lại rằng, đó là chữ do người Chiêm Thành khắc từ lâu đời. Theo TS Đinh Bá Hòa, Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Bình Định, những dòng chữ Phạn được cư dân Vijaya chạm khắc trên "hòn đá chữ" cách đây nhiều thế kỷ, đã được chụp ảnh gởi tới các cơ quan hữu trách ở Hà Nội. Song, cho đến nay vẫn chưa có hồi âm. Cũng có thể những dòng chữ Phạn được thực hiện theo những quy luật bí mật riêng và vì vậy chưa thể giải mã.

Dưới chân "hòn đá chữ" khoảng dăm mét có một hang ngầm rất sâu như không đáy, đường kính miệng hang chừng 1m. Bao nhiêu thế kỷ đã đi qua với những mùa mưa nắng khắc nghiệt, nhưng bao giờ miệng hang cũng chìm sâu dưới hai ba tấc nước. Dân địa phương kể rằng, trong những mùa hạn hán kéo dài, mỗi khi trời sắp mưa lòng hang sâu vọng lên những tiếng ồ ồ rất dữ dội. Nên người dân còn gọi là hang Ồ Ồ.

Sự thật về kho báu của vua Chăm Pa ở Hố Giang

Hàng chục năm nay, ở thôn Thành Sơn Tây người dân vẫn rỉ tai nhau rằng, ở trên Hố Giang có kho vàng của vua Chăm Pa. Câu chuyện được đồn đại khắp nơi, người dân địa phương và ở những vùng khác kéo nhau lên đây để đào bới, với tham vọng đổi đời nhưng cuối cùng đều thất vọng ra về. Đến nay, cơn sốt kho báu ở Hố Giang vẫn chưa dừng lại. Cứ mỗi khi mưa lũ đi qua, rất đông người lại kéo về đây, vì họ cho rằng sau trận lũ thì kho báu sẽ theo nước trồi lên.

Khi chúng tôi hỏi chuyện về Hố Giang, bà Nguyễn Thị Hải (75 tuổi, ngụ thôn Thành Sơn Tây, xã Hoài Châu) xua tay bảo: "Lên tìm kho báu trên đó chứ gì? Bao nhiêu người lên đó tìm mà có gì đâu. Lên chi mắc công".Chúng tôi cố giải thích, thì bà Hải mới tin chúng tôi là PV đến tìm hiểu về Hố Giang.

Theo bà Hải, tin đồn Hố Giang có kho báu, xuất phát từ câu chuyện lưu truyền từ xa xưa. Có một cậu bé nhà nghèo, nghe lời đồn đoán về kho báu nên mải miết đi tìm để đổi đời. Một hôm cậu phát hiện hang đá lớn ở Hố Giang, trong hang đầy ánh hào quang tỏa ra từ những pho tượng bằng vàng. Chìm trong mê hoặc, cậu bé đi vào sâu trong hang cho đến khi cửa hang bất ngờ khép lại, kho báu vĩnh viễn chìm trong bí mật.

Kí tự bí ẩn trên Hòn đá Chữ
Kí tự bí ẩn trên Hòn đá Chữ

Theo ông Phụng – trường thôn Thành Sơn Tây, những năm 1971 - 1972, máy bay Mỹ ném bom làm bật ra những bức tường thành xây bằng gạch Chăm, nằm sâu trong vùng núi Hố Giang. Người dân đến mang gạch này về dùng. Nhiều người còn kể rằng, đã thấy những đoạn tường thành xây bằng gạch Chăm ẩn trong lòng đất.

Trong các tư liệu về Hố Giang được Thư viện Tổng hợp Bình Định lưu giữ, có bài viết của nhà văn Từ Quốc Hoài giả định vùng Hố Giang này là kinh đô sơ tán của vua Chiêm Thành (tên của Vương quốc Chăm Pa) trong cuộc chiến chống quân Nguyên vào cuối thế kỷ 13. Theo ý kiến này, thì trong cuộc chiến xâm lăng của quân Nguyên bắt đầu diễn ra vào năm 1282, quốc vương Chiêm Thành là Indravarman 5 cho đốt kho lương, bỏ trống kinh thành Đồ Bàn, cùng quân sĩ cố thủ tại một vùng núi hiểm trở.

Dựa vào những dấu tích của người Chămpa còn lưu lại trên những vùng núi hiểm trở của dải đất Vijaya (Bình Định), nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết, vùng núi hiểm trở được Indravarman V chọn làm kinh đô sơ tán có thể là hai nơi đáng lưu ý. Một là, vùng núi Bà án ngữ phía Đông thành Đồ Bàn, nơi có Hòn Chuông nổi tiếng. Hai là, vùng Hố Giang nằm về phía Bắc kinh đô Đồ Bàn khoảng 70 km, với rất nhiều đèo dốc hiểm trở. Quân Nguyên muốn đi đến được vùng Hố Giang, phải hành quân mất nhiều ngày giữa vùng rừng núi đầy sơn lam chướng khí.

Cột mốc biên giới

TS Đinh Bá Hòa cho biết: ""Hòn đá chữ" chính là bia Thành Sơn, được người Pháp thống kê từ năm 1932 cùng với 18 văn bia Chăm Pa khác ở tỉnh Bình Định. Dựa vào đặc điểm nét chữ vuông (nét chữ Chăm tròn ra đời muộn hơn nét chữ vuông) trên “hòn đá chữ”, các nhà khoa học cho rằng văn bia này được ghi từ thế kỷ 12. Theo tôi được biết, thì văn bia này là cột mốc biên giới của người Chăm Pa. Trong bia có nhắc đến một vương quốc của người Chăm Pa ở miền núi, và ca ngợi vị vua trị vì vương quốc này".





                  Kho báu người Chăm – Kỳ 2



Chủ đề liên quan : Kho báu , kho vàng người Chăm , kho báu Chăm Pa