Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Kho báu. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Kho báu. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

KHO BÁU NGƯỜI CHĂM - KỲ 2

Lời đồn rằng , có một cặp Bạch Xà ngày đêm canh giữ một kho báu khổng lồ của người Hời (người Chăm) chôn dấu ngàn năm trước . Và sự thực là có nhiều nhân chứng đã khẳng định câu chuyện ly kỳ này .

Cặp bạch Xà canh giữ kho báu Chăm
Cặp bạch Xà canh giữ kho báu Chăm (ảnh minh họa)

Lời đồn “vàng sống” 

Bất cứ ai đến chùa Hoa Tiên (Phan Rang ,Ninh Thuận) đều ngỡ ngàng trước một cây đại thụ nằm giữa sân che bóng mát cho ngôi cổ tự. Người dân sở tại quen gọi là cây cốc. Thân cây sần sùi bằng vòng ôm của nhiều người, gốc rễ u mấu, cành lá sum suê, tỏa bóng một không gian rộng lớn. Tương truyền, trước khi lập nên chùa Hoa Tiên thì cây cốc đã mọc sừng sững ở đó rồi. Tính đến nay, cây cũng phải tuổi thọ hàng trăm năm. 

Trước đây, từng có nhiều người muốn đốn hạ cây để xây dựng nhà hát nhưng không hiểu sao khi đưa các loại máy móc tới thì chúng lại không thể nào hoạt động được. Nhiều người còn đưa cả máy ủi đến để hy vọng “san bằng” được cây, nhưng khi máy được đưa đến thì cũng bỗng dưng chết máy. Không thể tìm được cách đốn hạ nên cuối cùng chủ đầu tư đành phải “đổi ý” xây dựng nhà hát sang bên cạnh. 

Nhưng điều lôi cuốn và khiến khách phương xa tò mò nhất đó chính là lời đồn đại về kho vàng bạc, châu báu được chôn giấu dưới gốc cây. Nhiều người dân quả quyết rằng, ban đêm họ thường thấy ánh vàng sáng rực di chuyển xung quanh “thần mộc”.

Họ đồn rằng, “vàng từ dưới đất chui lên hóa dạng con gà đi ăn”... nhưng khi nghe tiếng động hoặc thấy bóng dáng con người là “đàn gà vàng” biến mất trong nháy mắt. Lại có người thấy vàng đi giữa đường liền vồ đến ôm nhưng khi mang về nhà nhìn kỹ thì lại hóa ra... cục đá. Tuy vậy, cũng có không ít người may mắn đào được buồng cau, nải chuối, tượng Phật bằng vàng... 

“Có những người đi làm về khuya tận mắt nhìn thấy những đồng tiền vàng cứ bay qua bay lại lấp lánh xung quanh gốc đại thụ nhưng khi tìm đến thì lại không thấy nữa. Nhiều lần như vậy nên người dân tin rằng số vàng đó đã “có linh khí” và có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác”, cụ Nguyễn Hoàng Lộc (gần 70 tuổi, nhà gần chùa Hoa Tiên) cho biết.
Nhiều người còn tin rằng những đàn gà vàng đi ăn trong đêm chính là vong hồn của những trinh nữ bị chôn sống theo kho vàng hóa thân mà thành. 

Thầy Thích Chơn Đạo giảng giải thêm, trong văn hóa người Chăm trước kia có rất nhiều giai thoại về việc sử dụng bùa ngải để trấn giữ những thứ quý giá của riêng mình hoặc của dòng tộc. Và hình thức “yểm bùa” bằng trinh nữ cũng đã từng được sử dụng. Linh hồn sẽ không được đầu thai nên sẽ phải làm “thần giữ của” mãi mãi cho đến khi lời nguyền được hóa giải. 

Không biết thông tin về kho vàng có bao nhiêu phần trăm sự thực nhưng nó đã từng khiến không ít kẻ nổi lòng tham muốn chiếm đoạt. Câu chuyện được đích thân nhà văn Quách Tấn viết lại trong cuốn “Xứ Trầm hương” rằng, dưới thời Pháp thuộc, Công sứ Bréda từng tới làng yêu cầu đào gốc cây để tìm vàng. Người trong làng sợ linh mộc bị đốn hạ thì tai họa xảy đến nên quyết liệt phản đối. “Phép vua thua lệ làng”, viên công sứ đành thối nhượng. Nhưng cũng có người cho rằng, vị Công sứ Pháp kia đã gặp phải những giấc mơ quái đản, bị oan hồn thiếu nữ hành hạ nên đã sợ hãi mà từ bỏ ý định. 

Không chỉ có vị Công sứ Pháp có ý định tìm kho báu mà sau này từng có mấy người Chăm ở Phan Rang cũng tìm đến chùa. Họ trưng giấy tờ của ông bà để lại và xin được phép đào gốc cây cốc để tìm của “gia bảo”. Nhưng nhà chùa nhất định khước từ.

Đáng sợ hơn có những kẻ bất chấp lệnh cấm mà cố tình đào bới nên đã gặp phải những tai ương, bỗng dưng bị bệnh “ngơ ngơ ngẩn ngẩn” nằm liệt giường, thậm chí có kẻ bỏ mạng mà không hiểu lí do. Người dân tin rằng đó là do hồn ma trinh nữ trừng trị những kẻ dám mạo phạm đến kho báu. 

Chùa Hoa Tiên
Chùa Hoa Tiên


Bạch xà hộ vệ 

Đã có thời những ngôi mộ cổ của người Chăm khắp vùng Bình Đình, Khánh Hòa bị những kẻ săn tìm kho báu xới tung, “kho vàng” dưới gốc cây cốc đại thụ cũng bị không ít kẻ để ý dòm ngó. Thế nhưng bên cạnh niềm tin về sự bảo vệ của những “oan hồn trinh nữ”, người dân địa phương còn tin rằng kho vàng linh thiêng được một cặp rắn thần canh giữ suốt đêm ngày. Chính vì thế dù có thèm muốn “nhỏ dãi” cũng không có người nào dám cả gan làm bậy. 

Thầy Thích Chơn Đạo dẫn tôi vào một gian mật thất bí mật, nơi nhà chùa lưu giữ pho tượng cổ “lồi” lên từ gốc cây cốc. Sự tích pho tượng Phật lồi này cũng là một điều kỳ lạ. Truyền rằng, một hôm tại gốc cây đại thụ bỗng xuất hiện 2 tượng Phật kì dị. Có người tin rằng đó chính là tượng trấn yểm kho báu của người Chăm nhưng theo thời gian đã tự “lồi” lên mặt đất. Khi nhà sư trụ trì chùa đem vào thờ trong chính điện thì trong đêm một pho tượng biến mất, pho tượng còn lại bị rơi từ trên cao xuống đất, đầu lìa khỏi thân. 

Ly kỳ hơn kể từ ngày đó, nhiều người trong chùa nhìn thấy một cặp rắn khổng lồ thoắt ẩn thoắt hiện xung quanh “linh thụ”. Cặp bạch xà dài tới 4 thước và trên đỉnh đầu có mào đỏ rực như lửa. Không chỉ những vị sư thầy ở chùa mới may mắn được gặp mặt “rắn ông, rắn bà” mà những người dân sống gần chùa cũng nhiều lần “hội ngộ” với “rắn thần”. Bà Trần Thị Lạc (67 tuổi, nhà gần chùa Hoa Tiên) kể lại, khi còn con gái, trong một lần đi xem kịch nói về, bà Lạc kinh hãi khi phát hiện một con rắn khổng lồ đang uốn mình trên cây cốc ở trước cổng chùa. Nhưng “rắn thần” không tấn công mà chỉ nhìn bà một lúc rồi trườn đi mất. 

Cũng theo lời vị sư trụ trì thì những lời đồn đại về kho vàng chôn giấu dưới gốc cây đại thụ là có thật, tuy nhiên việc tìm được kho báu không phải là điều đơn giản. Bởi lẽ, ngoài việc được những oan hồn trinh nữ bảo vệ, bạch xà canh gác thì những kho báu của người Chăm thường được chôn giấu theo một trận đồ “ngũ hành bát quái” bí mật. Do đó, nếu muốn lấy được vàng thì phải đoán biết chính xác đến từng khắc về thời gian cũng như quy luật vận hành tương xung tương khắc của kì trận. 

“Càng khó khăn hơn khi thời gian đã trải qua tới mấy trăm năm. Quy luật vận hành dưới lòng đất nên rất có thể trận đồ này đã biến hóa không còn như lúc nó được chôn giấu nữa”, thầy Thích Chơn Đạo chia sẻ. Có một thời gian người dân xung quanh chùa nhìn thấy lá cây cốc trước chùa bỗng nhiên đổi màu vàng rực cả cây. Điều này khiến cho giả thuyết về sự tồn tại của kho báu được củng cố. Nhiều người cho rằng do dưới gốc cây có kho báu bằng kim loại khiến cho cây không tìm được nguồn dinh dưỡng nên mới héo úa. Chỉ có điều một thời gian sau, lá cây lại bỗng dưng xanh tốt trở lại(?). 

Ngoài ra, trên bề mặt thân cây cốc còn có những hình thù kì lạ mà theo như thầy Thích Chơn Đạo cho biết: “Những hình trên gốc cây này đã có cách đây mấy trăm năm rồi. Kỳ thú hơn là những hình xù xì đó trông rất giống cảnh các vị Chư Phật đang cúi đầu trước Đạt Ma Sư Tổ”. Cho đến bây giờ, câu hỏi có hay không một kho vàng dưới gốc cây cốc đại thụ vẫn là một ẩn số. Thế nhưng có một điều chắc chắn là cây cốc cùng với ngôi cổ tự nhiều trăm năm tuổi kia đã trở thành một chứng tích của thời gian, một “kho báu” trong lòng những người dân nơi đây.








Chủ đề liên quan : Kho báu , kho vàng người Chăm , kho báu Chăm Pa


KHO BÁU NGƯỜI CHĂM - KỲ 3

Về thăm thôn Thành Sơn Tây (xã Hoài Châu, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định) . Hàng chục năm nay, người dân vẫn rỉ tai nhau, trên Hố Giang có kho vàng của vua Chăm Pa.

Toàn cảnh Hố Giang
Toàn cảnh Hố Giang

Bí ẩn về "hòn đá chữ"

Hố Giang là một địa điểm nằm trong dãy núi ở phía Tây thôn Thành Sơn Tây. "Hòn đá chữ" là một tảng đá tự nhiên nằm giữa dòng chảy của suối Hố Giang, chỉ lộ thiên vào mùa nước cạn.

Mặt phẳng của "hòn đá chữ" này rộng khoảng hơn 2m, dài hơn 3m. Gọi là "hòn đá chữ" vì trên mặt phẳng hòn đá có những dòng chữ Phạn ngữ được khắc gần như đặc kín. Có tổng cộng 15 hàng chữ, nhưng do bị nước xói mòn nên phần lớn chữ đã bị bào mòn, sáu dòng đầu đã bị mất nét và mất từng đoạn, chín dòng sau cũng bị mờ và bị mất nét khá nhiều, nên không thể đọc được.

Quanh "hòn đá chữ" còn vô số những dấu vết có hình dáng như bàn chân của một người và nhiều dấu vết, nhiều lỗ tròn trên bề mặt phiến đá. Người dân trong vùng cho rằng đó là dấu chân và dấu gậy của người khổng lồ ngày xưa gánh đất, vật liệu đi xây kho báu.

Hòn đá Chữ
Hòn đá Chữ

Dân gian truyền lại rằng, đó là chữ do người Chiêm Thành khắc từ lâu đời. Theo TS Đinh Bá Hòa, Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Bình Định, những dòng chữ Phạn được cư dân Vijaya chạm khắc trên "hòn đá chữ" cách đây nhiều thế kỷ, đã được chụp ảnh gởi tới các cơ quan hữu trách ở Hà Nội. Song, cho đến nay vẫn chưa có hồi âm. Cũng có thể những dòng chữ Phạn được thực hiện theo những quy luật bí mật riêng và vì vậy chưa thể giải mã.

Dưới chân "hòn đá chữ" khoảng dăm mét có một hang ngầm rất sâu như không đáy, đường kính miệng hang chừng 1m. Bao nhiêu thế kỷ đã đi qua với những mùa mưa nắng khắc nghiệt, nhưng bao giờ miệng hang cũng chìm sâu dưới hai ba tấc nước. Dân địa phương kể rằng, trong những mùa hạn hán kéo dài, mỗi khi trời sắp mưa lòng hang sâu vọng lên những tiếng ồ ồ rất dữ dội. Nên người dân còn gọi là hang Ồ Ồ.

Sự thật về kho báu của vua Chăm Pa ở Hố Giang

Hàng chục năm nay, ở thôn Thành Sơn Tây người dân vẫn rỉ tai nhau rằng, ở trên Hố Giang có kho vàng của vua Chăm Pa. Câu chuyện được đồn đại khắp nơi, người dân địa phương và ở những vùng khác kéo nhau lên đây để đào bới, với tham vọng đổi đời nhưng cuối cùng đều thất vọng ra về. Đến nay, cơn sốt kho báu ở Hố Giang vẫn chưa dừng lại. Cứ mỗi khi mưa lũ đi qua, rất đông người lại kéo về đây, vì họ cho rằng sau trận lũ thì kho báu sẽ theo nước trồi lên.

Khi chúng tôi hỏi chuyện về Hố Giang, bà Nguyễn Thị Hải (75 tuổi, ngụ thôn Thành Sơn Tây, xã Hoài Châu) xua tay bảo: "Lên tìm kho báu trên đó chứ gì? Bao nhiêu người lên đó tìm mà có gì đâu. Lên chi mắc công".Chúng tôi cố giải thích, thì bà Hải mới tin chúng tôi là PV đến tìm hiểu về Hố Giang.

Theo bà Hải, tin đồn Hố Giang có kho báu, xuất phát từ câu chuyện lưu truyền từ xa xưa. Có một cậu bé nhà nghèo, nghe lời đồn đoán về kho báu nên mải miết đi tìm để đổi đời. Một hôm cậu phát hiện hang đá lớn ở Hố Giang, trong hang đầy ánh hào quang tỏa ra từ những pho tượng bằng vàng. Chìm trong mê hoặc, cậu bé đi vào sâu trong hang cho đến khi cửa hang bất ngờ khép lại, kho báu vĩnh viễn chìm trong bí mật.

Kí tự bí ẩn trên Hòn đá Chữ
Kí tự bí ẩn trên Hòn đá Chữ

Theo ông Phụng – trường thôn Thành Sơn Tây, những năm 1971 - 1972, máy bay Mỹ ném bom làm bật ra những bức tường thành xây bằng gạch Chăm, nằm sâu trong vùng núi Hố Giang. Người dân đến mang gạch này về dùng. Nhiều người còn kể rằng, đã thấy những đoạn tường thành xây bằng gạch Chăm ẩn trong lòng đất.

Trong các tư liệu về Hố Giang được Thư viện Tổng hợp Bình Định lưu giữ, có bài viết của nhà văn Từ Quốc Hoài giả định vùng Hố Giang này là kinh đô sơ tán của vua Chiêm Thành (tên của Vương quốc Chăm Pa) trong cuộc chiến chống quân Nguyên vào cuối thế kỷ 13. Theo ý kiến này, thì trong cuộc chiến xâm lăng của quân Nguyên bắt đầu diễn ra vào năm 1282, quốc vương Chiêm Thành là Indravarman 5 cho đốt kho lương, bỏ trống kinh thành Đồ Bàn, cùng quân sĩ cố thủ tại một vùng núi hiểm trở.

Dựa vào những dấu tích của người Chămpa còn lưu lại trên những vùng núi hiểm trở của dải đất Vijaya (Bình Định), nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết, vùng núi hiểm trở được Indravarman V chọn làm kinh đô sơ tán có thể là hai nơi đáng lưu ý. Một là, vùng núi Bà án ngữ phía Đông thành Đồ Bàn, nơi có Hòn Chuông nổi tiếng. Hai là, vùng Hố Giang nằm về phía Bắc kinh đô Đồ Bàn khoảng 70 km, với rất nhiều đèo dốc hiểm trở. Quân Nguyên muốn đi đến được vùng Hố Giang, phải hành quân mất nhiều ngày giữa vùng rừng núi đầy sơn lam chướng khí.

Cột mốc biên giới

TS Đinh Bá Hòa cho biết: ""Hòn đá chữ" chính là bia Thành Sơn, được người Pháp thống kê từ năm 1932 cùng với 18 văn bia Chăm Pa khác ở tỉnh Bình Định. Dựa vào đặc điểm nét chữ vuông (nét chữ Chăm tròn ra đời muộn hơn nét chữ vuông) trên “hòn đá chữ”, các nhà khoa học cho rằng văn bia này được ghi từ thế kỷ 12. Theo tôi được biết, thì văn bia này là cột mốc biên giới của người Chăm Pa. Trong bia có nhắc đến một vương quốc của người Chăm Pa ở miền núi, và ca ngợi vị vua trị vì vương quốc này".





                  Kho báu người Chăm – Kỳ 2



Chủ đề liên quan : Kho báu , kho vàng người Chăm , kho báu Chăm Pa




KHO BÁU NGƯỜI CHĂM - KỲ 1

Làng Đồng Dương, xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, Quảng Nam , nổi tiếng với khu đền tháp Đồng Dương . Người dân khu vực này vẫn truyền tai nhau những truyền thuyết nửa hư nửa thực về “kho báu vua Hời”. Ngày ngày, những kẻ săn tìm báu vật vẫn bất chấp hiểm nguy ngày đêm săn lùng, đào bới những ngôi mộ cổ, đền tháp, linh vật, đền thờ người Chăm ở Đồng Dương.

Khu đền tháp Chăm Pa
Khu đền tháp Chăm Pa

Kho báu người Chăm và những hậu họa bất ngờ

Ông Trà Tấn Tôn, hậu duệ của người Chăm, đã kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện thêu dệt về kho báu của người Chăm. Đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học thuộc Viện Viễn Đông Bác cổ Đông Dương đã phát hiện nơi đây 229 tác phẩm Đồng Dương quý hiếm bậc nhất nền văn hóa Chăm Pa cổ đại. Từ đó, tin đồn câu chuyện về kho báu vua Chăm được thêu dệt hết sức ly kỳ.

Người dân địa phương và nhiều nơi khác vẫn tin rằng: nơi đây xưa từng là hầm đúc vàng của vương quốc Chăm Pa. Và họ tin rằng ngay dưới chân ngọn Tháp Sáng và rải rác khắp nơi khác hiện vẫn còn kho báu vàng và nhiều cổ vật quý mà vua Chăm từng chôn giấu cách đây nghìn năm. Huyễn hoặc hơn, khi nhiều người tin rằng vào mỗi đêm rằm, khi trăng tròn vạnh treo ngay đỉnh đầu của Tháp Sáng là lúc kho vàng cổ sẽ tự lộ thiên, vàng nhiều đến nỗi không đếm xuể. 

Chuyện kể rằng, ban đêm còn có cảnh tượng từng miếng vàng Hời (vàng của người Chăm) rơi rớt khắp nơi, các cổ vật nghìn năm tuổi bằng vàng hình thù cổ quái tự chui lên khỏi mặt đất, “phơi mình” ngay bên con suối nhỏ. Ông Tôn là người già nhất làng còn nhớ chuyện về khu tháp cổ và những chuyện bí mật mà ông đã được người xưa truyền lại. Đó là những bóng “ma Hời” nơi tháp cổ, được đồn thổi là những người để bảo vệ kho báu của vua Chăm. 

Hay chuyện đào gạch từ tháp cổ về xây nhà thời sau giải phóng được lưu truyền là chỉ có con cháu mang họ Trà mới sử dụng được gạch Chăm lấy nơi tháp cổ và không được mang đi nơi khác. Nếu không phải là con cháu họ Trà, mà lấy gạch Chăm nơi tháp về xây nhà thì bị đau ốm. Chính vì vậy người dân ngoài họ Trà không ai dám đến lấy gạch. Nhưng sau đó chính quyền địa phương lấy gạch về xây dựng trường học, hợp tác xã. Rồi nhiều người không mang họ Trà vẫn vô tư lên tháp cổ đào bới chẳng thấy ai đau ốm. Thế là người dân ùn ùn kéo nhau về tháp cổ đào bới tìm gạch và tìm cổ vật, săn vàng Hời. 

Dân làng Đồng Dương vẫn còn nhớ như in cuộc đào bới băm nát tháp cổ diễn ra vào năm 1978, khi một nhóm người đào bới trong khu tháp đã phát hiện một tượng đồng. Chính quyền địa phương lập tức lên tịch thu. Nhưng chuyện đồn thổi lan nhanh rằng họ đã đào được tượng đồng đen giá trị quý hơn vàng. Hai quả lựu trên hai bàn tay của bức tượng được người đào bới thu giữ. May nhờ công an xã đến tịch thu và cất giữ tại xã đến nay như một báu vật. Cuộc kiếm tìm đồ cổ, kho báu vàng Hời cứ thế tiếp diễn hết năm này qua năm khác. Khi cả khu tháp cổ gần như bị xoá sổ, những người tìm kiếm bắt đầu mở rộng công cuộc săn tìm ra khu vực xung quanh tháp trong bán kính khoảng 1 km đường chim bay.

Một người thợ kim hoàn nổi tiếng vùng đất Thăng Bình đã từng có một thời thu mua vàng Hời cho biết tuổi vàng Hời rất thấp, nên giá trị không cao. Bên cạnh đó, quan niệm buôn bán vàng Hời gặp xui xẻo nên rất ít người muốn mua loại vàng này. Nhiều người vẫn kể lại câu chuyện cách đây 20 năm trước, tại khu vực này, những người đào bới đã tìm thấy từng mảnh vàng, đồ trang sức, hạt vàng nhỏ trong đống gạch đất bị vùi sâu trên đỉnh núi Ngang. Từ đó, dòng người từ mọi nơi đổ về Đồng Dương ngày càng đông để nhận những kết cục bi thảm của những kẻ săn tìm vàng mãi đến hôm nay vẫn còn lưu truyền trong người dân địa phương. Nhiều người dân xem đó là những câu chuyện ám ảnh cả đời. 

Chuyện phát hiện hũ vàng Hời trong lúc đi nhặt ve chai của anh em ông Thái (người địa phương) đến nay vẫn còn đó những câu chuyện nhuốm màu li kì. Sau đó chiếc ấm được bán cho một tiệm vàng ở Hà Lam. Kể từ đó anh em nhà ông Thái giàu lên, bỏ nghề rà tìm phế liệu. Nên chuyện đào được hũ vàng của anh em ông Thái cứ thế được đồn thổi đã khiến nhiều kẻ khát tìm kho vàng bắt đầu quay trở lại khu vực quanh tháp để tìm kiếm. Họ hy vọng sẽ tìm được những hũ vàng Hời tương tự như gia đình ông Thái. Nhưng không ai ngờ rằng, chỉ sau đó  một thời gian, anh em ông Thái bị chết tức tưởi trong một vụ tai nạn kinh hoàng trên quốc lộ 1A.

Cũng là một câu chuyện đau lòng khác được thêu dệt sau khi một chủ tiệm vàng ở Hà Lam thường xuyên thu mua vàng ở tháp cổ nên sau đó con cái bị chết do tai nạn và bản thân chủ tiệm gặp rất nhiều tai nạn dẫn đến tán gia bại sản. May nhờ người chủ tiệm vàng biết được nên đã đem số vàng mua được bí mật chôn trở lại nơi tháp cổ. Kể từ đó gia đình mới yên ổn làm ăn và bản thân chủ tiệm vàng cũng đã tai qua nạn khỏi. Nhiều người cho rằng, kho báu người Chăm có một lời nguyền nên hễ ai đụng chạm đến sẽ bị trừng phạt.

Không riêng gì những kẻ săn tìm cổ vật và kho vàng gặp nạn, mà nhiều người mê cổ vật Chăm đã từng tìm đến tháp Đồng Dương để ngắm nhìn cũng bị quở trách. Cách đây vài năm tại Đà Nẵng, chuyện về hai “đại gia” lên tận Đồng Dương mua tượng Chăm cổ, trên đường về ban đêm đã đâm vào trụ điện một chết và một bị trọng thương được đồn thổi khiến những kẻ săn tìm phải run sợ. 

Theo một người dân sinh sống ở làng Đồng Dương cho biết, trước đây người ngoài tộc Trà như ông mỗi khi đi qua tháp cổ đều cúi đầu không dám liếc mắt nhìn vì sợ những lời nguyền chết chóc còn truyền tụng. Thậm chí hót rác mục, hay lượm cây củi khô tại khu vực quanh tháp cũng không dám vì sợ gặp chuyện không may. Đúng như những gì ông kể, “chợt nhớ ngày còn nhỏ, mỗi khi trốn nhà lên khu tháp cổ hái sim, tôi vẫn còn nhớ như in lời người lớn dặn rằng không được mang bất cứ thứ gì trong khu vực tháp cổ về nhà”.



Theo ANTĐ




KHO BÁU VUA HÀM NGHI - KỲ 2

Không chỉ là giai thoại , Sự thật về Kho báu vua Hàm Nghi ngày càng được hé lộ .

Hướng Hóa , Quảng Trị
Hướng Hóa , Quảng Trị

Đầu những năm 1980, đồng bào dân tộc Vân Kiều ở gần cầu Đắkrông, Quảng Trị (cạnh Nghĩa trang Trường Sơn hiện nay), trong khi đi bắt cá khe đã tình cờ phát hiện trong một hốc cây lớn chìm dưới suối cả một kho tàng gồm toàn tiền cổ bằng vàng ròng và những thoi vàng nặng 1 lượng.

Một đoàn khảo sát của Bảo tàng Trung ương cũng tình cờ phát hiện được tại bản Sê Bu, xã Hướng Phùng, Hướng Hóa, Quảng Trị một chiếc áo dài màu đen, lót lụa đỏ, thêu kim tuyến và hình rồng 5 móng được cho là áo bào của Vua Hàm Nghi. Thời nhà Nguyễn, chỉ có vua mới được thêu rồng 5 móng.
Một số tài liệu trước đó từng ghi nhận, trước khi chia tay để thoát sang Châu mường Mahasay (tỉnh Khăm Muộn, Lào), Vua Hàm Nghi đã cởi áo bào tặng cho một người Vân Kiều tên là Ku Xin, vì đã có công giúp đỡ đoàn hộ giá.

Tại thôn 5, xã Hải Phúc (huyện Đắkrông), Bảo tàng tỉnh Quảng Trị cũng phát hiện được trong một gia đình Vân Kiều có chiếc mâm đồng cổ rất lớn chạm 2 con rồng 5 móng và 5 chữ Hán: Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh.

Ở Quảng Bình, ông Thái Xuân Bạ, nguyên Phó chánh án Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa cho biết, khoảng những năm 50, bố ông tham gia dân quân xã, từng được huy động đi thu gom "vàng Vua Hàm Nghi" do dân xã Trung Hóa phát hiện.

Tổng cộng có 3 nong phơi lúa tiền chữ "Đại" bằng vàng ròng, mỗi đồng nặng 12 chỉ được gom về sân nhà ông Bạ trước khi đem giao nộp cho chính quyền. Ông Bạ và một số trẻ con hàng xóm đã "nhón" đi mỗi người khoảng 10 đồng để dành... đánh đáo.

Tại thôn Đặng Hóa, Hóa Sơn, huyện Minh Hóa, năm 1956, sau trận lụt lớn, người dân trong xã đã phát hiện và vớt được vô số tiền vàng từ một hốc đá trôi ra suối, thu được hàng tạ, đem nộp lại toàn bộ cho Nhà nước.

Gần hơn, giữa tháng 4/2003, một đám trẻ chăn trâu đã tình cờ phát hiện được tại hang Lèn, xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình một chiếc tráp gỗ, bên ngoài khắc chữ Hán và hoa văn nhũ vàng rất đẹp. Đưa xuống núi, chiếc tráp đã tự động mục rã ra.

Hang Lèn
Hang Lèn

Bên trong tráp có một quả cau bằng kim loại màu đen, hai lư hương bằng đồng và 2 chìa khóa kiểu cổ. Một thanh niên trong làng đã lừa đám trẻ lấy mất quả cau màu đen (nghi chế tác bằng đồng đen). Hai lư hương và hai chiếc chìa khóa, Sở Văn hóa Thông tin đã kịp thời thu giữ để giám định.

Gần 1 năm sau, ngày 30/12/2003, trong khi đào đất trên ruộng, người dân Văn Hóa đã bất ngờ đào được hàng chục chum vại đựng đầy tiền cổ triều Nguyễn được chôn cách mặt đất chỉ chừng 0,6m. Suốt buổi chiều và đêm hôm đó, toàn bộ số tiền cổ này đã được thương lái đến mua và đem đi mất, trước khi chính quyền địa phương phát hiện và ngăn chặn.

Thông tin chi tiết về vụ việc, chúng tôi đã có dịp đề cập đầy đủ trong bài báo "Quảng Bình: Hàng tấn tiền cổ được phát hiện và… biến mất" (tác giả Hồng Lam - Tâm Phùng) đăng trên Chuyên đề ANTG phát hành ngày 3/1/2004.

Đầu năm 2009, UBND huyện Tuyên Hóa, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Quảng Bình cũng đã tiếp nhận 3 đồng tiền vàng của bà Nguyễn Thị Liên, trú tại thôn Tân Sơn, xã Sơn Hóa, Tuyên Hóa. Con dâu bà Liên đã phát hiện 3 đồng tiền cổ này tại khe nước Trọt Su trong xã.

Những đồng tiền này đều đúc bằng vàng 999,9%, mỗi đồng nặng 5 chỉ vàng. Có 2 đồng đường kính 2,8cm, đồng còn lại đường kính 2,4 cm. Khác kích thước nhưng giống nhau về cách trang trí, một mặt có họa tiết mặt trời, mặt kia có 4 chữ "Hàm Nghi thông bảo". Rất có thể, đây là những đồng tiền được đúc dập sau khi Vua Hàm Nghi đã trên đường bôn tẩu.

Một vài di vật được tìm thấy
Một vài di vật được tìm thấy


Một chứng cứ xác đáng được nhiều người biết nữa xuất hiện vào giáp tết Nguyên đán năm 2007. Nhà báo Văn Cầm Hải và nhóm làm phim thời sự của VTV1 khu vực Thừa Thiên - Huế đã phát hiện và quay được tại xã Phú Gia, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh, một loạt những di vật của Vua Hàm Nghi.

Kho báu gồm một cặp kiếm, 6 hoàng bào, một cặp voi vàng, cau, trâu vàng... vẫn được gìn giữ nguyên vẹn trong một miếu thờ có 3 chìa khóa, do 3 người cất giữ. Miếu cất giữ những báu vật này nằm cách căn cứ Sơn phòng xưa chỉ chưa đầy 2km.

Rõ ràng, kho báu Vua Hàm Nghi là một hiện thực lịch sử, không chỉ là huyền thoại. Những phần kho báu đó chôn giấu những đâu, chôn giấu như thế nào là một bí ẩn lớn của lịch sử, chưa ai tìm ra lời đáp. Nhưng chắc chắn nó không phải là câu chuyện hoang đường

Theo Vietnamnet



Chủ đề liên quan : kho báu , kho báu vua Hàm Nghi , huyền thoại kho vàng


KHO VÀNG YAMASHITA

Bằng cách “hỗ trợ” đầu tư hạ tầng , đầu tư xây dựng dự án tại những nơi “nghi vấn” . Nhật Bản kì vọng thu hồi tất cả kho Vàng Yamashita được chôn dấu tại Philipines . Tuy nhiên , mọi chuyện không đơn giản với vị Tổng thống nhanh nhạy F.Marcos .


kho vang yamashita
Kho vàng Yamashita


Năm 1971, phu nhân ông Marcos, bà Imelda, bị bắt gặp xài hơn 3 triệu USD chỉ trong 1 ngày mua sắm ở New York. Hỏi vì sao giàu trong khi lương tổng thống thì bèo bọt, Marcos cười sảng khoái và bảo “nhờ tìm ra kho vàng của Yamashita”.

Cuối thập niên 1950, nhiều toán người Nhật âm thầm trở lại Philippines tìm cách hợp tác làm ăn, song thực chất là săn lùng số kho báu giấu lại ở Đệ nhị thế chiến.

Chính quyền Tokyo cũng đề nghị sẵn sàng giúp Philippines “hàn gắn vết thương chiến tranh” bằng những dự án hạ tầng miễn phí, bao gồm đầu tư cho hệ thống thủy lợi, đường sá, làm đường hầm xuyên núi. Các công ty cứu hộ Nhật xin được nạo vét, khơi thông dòng chảy cho vịnh Manila bằng cách trục vớt tàu đắm ở đây. Bằng cách này, họ đã vớt được nhiều xác tàu bên trong chứa của cải quân Nhật chuyên chở trước khi chìm xuống biển.

Nhiều công ty xây dựng của Nhật cũng đổ xô sang Philippines, làm những dự án ở các vị trí “nghi có vàng” trên khắp đất nước Philippines. Họ thuê công nhân Philippines làm việc trên những dây chuyền sản xuất ti vi, cassette, máy tính, tủ lạnh hay máy lạnh... ra sản phẩm, tất cả được đóng thùng chuyển sang Nhật. Trong đó, có nhiều thùng hàng được ghi nhận là “rất nặng”. CIA có những thông tin cho biết người Nhật đã tìm lại được không ít vàng cất giấu thời Đệ nhị thế chiến và chuyển về chính quốc bằng cách này, song CIA đã không can thiệp.

Marcos biết được thông tin về kho báu hoàn toàn tình cờ. Binh sĩ của ông phát hiện 2 người đàn ông Nhật, vốn là cựu binh quân đội Nhật hoàng, đang hì hục đào một cái hố tại Ilocos Norte, quê hương của Marcos ở tây bắc Luzon. Họ cố tìm lại những thỏi vàng to bằng cái bánh quy giấu riêng từ thời chiến. Marcos ra lệnh tịch thu số vàng này.

Khi ấy, Marcos là một chính trị gia trẻ, nhạy bén. Từ những thỏi vàng thu được của 2 cựu binh Nhật, ông cũng nghe loáng thoáng về câu chuyện Santy khai quật thành công các kho vàng trước đó. Marcos tìm cách tiếp cận, tạo quan hệ, dần dần ông bắt đầu thay Santy điều hành một số hoạt động, trong đó có chiến dịch The Umbrella.

Khi đắc cử tổng thống năm 1965, Marcos trực tiếp tiến hành tìm kiếm kho báu. Đầu tiên, ông hợp tác với trùm thế giới ngầm Sasakawa Ryoichi để cùng tìm kiếm và chia phần. Sasakawa là bạn nối khố của Kodama - trùm xã hội đen Nhật Bản được Nhật hoàng huy động trong chiến dịch Hoa Huệ Vàng, cướp bóc tài sản trong thế giới ngầm của 12 quốc gia thời chiến tranh, đặc biệt là Trung Quốc. Do đó, Sasakawa biết chỗ giấu vàng, còn Marcos trao cho Sasakawa quyền tìm kiếm. Nhưng kho vàng thực sự khiến Marcos nổi tiếng cả thế giới không đến từ sự hợp tác này, mà từ một anh thợ khóa Roger Roxas.

Tháng 1.1971, một thợ khóa người Philippines kiêm nhà săn kho báu nghiệp dư tên Roger Roxas bò vào một đường hầm do quân Nhật đào thời chiến và tìm thấy một bức tượng Phật ngồi bằng vàng cao gần 10 feet (chưa đến 90 cm), nặng khoảng 1 tấn và được đúc theo phong cách Miến Điện.
Thường ngày, Roxas kiếm sống bằng nghề mua bán lặt vặt ở khu resort Baguio, kiêm luôn chức Chủ tịch Hiệp hội Săn lùng kho báu Philippines. Roxas tiếp xúc rất nhiều du khách Nhật. Một lần, vị khách Okubo Eusebio nói với Roxas rằng khi còn trẻ, ông ta phiên dịch cho tướng Yamashita và biết Yamashita đã chở một lượng vàng bạc lớn từ Manila đến Baguio để mua lương thực cho binh sĩ trong năm cuối chiến tranh. Okubo nói rằng số vàng đó được cất trong những thùng gỗ, giấu dưới đường hầm gần Bệnh viện đa khoa Baguio. Okubo cũng cho Roxas biết ông đã thấy một bức tượng Phật bằng vàng ở gần tu viện vốn là nơi ở và tổng hành dinh của tướng Yamashita.

Một người Bồ Đào Nha khác tên Albert Fuchigami lại nói với Roxas rằng cha ông là người Nhật đã để lại cho ông nhiều tấm bản đồ kho báu. Gia đình Fuchigami có một sạp bán rau quả ngoài chợ. Ông này nói rằng cha ông có lần đã dẫn ông vào một đường hầm phía sau Bệnh viện Baguio. Đây là đường hầm có lối đi đủ to cho các xe đẩy tay và bên trong chứa toàn vàng. Trước khi chết, cha Albert đã cho ông số bản đồ này.

Roxas là bạn của John Ballinger - sĩ quan Mỹ từng chiến đấu ở Luzon trong đơn vị du kích của đại úy Medina. Chính Ballinger từng chụp ảnh chiếc tàu Fuji Maru ngụy trang thành tàu cứu thương và theo đoàn xe quân sự chở vàng từ vịnh Subic giấu trong hang núi. Sau đó, khi đại đội của Medina thâm nhập Baguio, Ballinger quan sát thấy quân Nhật mang những thùng rất nặng vào trong đường hầm gần bệnh viện. Quân du kích sau đó tấn công bằng súng máy và lựu đạn, đánh sập cửa đường hầm, nhốt sống quân Nhật bên trong. Sau cuộc chiến, Ballinger trở về Mỹ, sống ở New Mexico. Trong một lần trở lại Philippines, John Ballinger nói với Roxas rằng ông nhớ lối vào đường hầm nằm ở gần một hố công sự bê tông. Tuy nhiên, Ballinger không thể chỉ được cái hố đó ở đâu vì hiện trường đã thay đổi qua mấy chục năm.

Phân tích thông tin thu nhặt được từ Fuchigami, Okubo và Ballinger, Roxas kết luận chắc chắn là đường hầm đó tồn tại, vấn đề là phải tìm ra cái hố công sự bê tông đó. Roxas nộp đơn xin chính quyền cho phép được đào tìm kho báu. Thẩm phán vùng Baguio Pio Marcos là cậu của Tổng thống Marcos. Theo đó, chính phủ Philippines sẽ được chia 30% tổng số của cải tìm thấy.

Đầu năm 1970, Roxas cùng nhân công tìm ra đường vào đường hầm bị sập. Nhưng muốn mở được cửa lối vào, quân của ông phải đào thêm 7 tháng nữa. Và sau khi thông đường hầm, đám công nhân lập tức bị dội trở lại vì một luồng xú uế từ các thi thể. Roxas phải đợi 1 tuần lễ trước khi bò được vào bên trong…

Xem tiếp : kho vàng Yamashita


Theo TNO




KHO BÁU VUA HÀM NGHI - KỲ 1

Hàm Nghi , Thành Thái , Duy Tân nổi tiếng là những vị vua yêu nước của triều Nguyễn . Vua Hàm Nghi là người phát động phong trào Cần Vương , kêu gọi toàn dân đánh giặc . Và trên đường đi ẩn danh để duy trì phong trào , tương truyền ông đã mang theo một lượng kho báu cực lớn và cất giấu rải rác .

Vua Hàm Nghi
Vua Hàm Nghi

Dấu tích thư tịch…

Sau Hòa ước Giáp Tuất 1874, trước sự uy hiếp liên tục và ngày càng gia tăng của thực dân Pháp, Vua Tự Đức đã chuẩn y cho xây dựng một loạt các căn cứ Sơn phòng ở hầu khắp các tỉnh miền Trung. Mục đích ban đầu là để phòng ngừa sự quấy nhiễu của "người Man" (người dân tộc thiểu số) từ Tây Nguyên tràn xuống.

Nói cách khác, Sơn phòng không gì khác hơn là một loại thành lũy quy mô vừa phải, có quân đồn trú, làm nhiệm vụ như biên phòng ngày nay ở khu vực sơn cước phía tây đất nước.

Nhưng mục đích sâu xa, nhà Nguyễn muốn chuẩn bị trước một loạt căn cứ hậu lộ nhằm có nơi rút lui và tổ chức kháng chiến lâu dài, nếu Kinh thành Huế bị Pháp tấn công không thể giữ được.

Trong số đó, sách “Đại Nam thực lục chính biên” cho biết, theo chỉ dụ của Tự Đức, vùng Cùa, Cam Lộ, Quảng Trị được chọn làm đất lập Nha Kinh lý Sơn phòng Quảng Trị, tiền thân của thành Tân Sở sau này. Nhân lực xây dựng lấy từ số phạm nhân đã được phân loại.

Ấn tín Quốc Gia bằng vàng đúc năm Gia Long
Ấn tín Quốc Gia bằng vàng đúc năm Gia Long

Tháng 7/1883, Vua Tự Đức băng hà. Một tháng sau, Pháp đã đưa tàu chiến chiếm cứ cửa biển Thuận An, từ đó kéo quân xộc thẳng về Kinh đô và đồn trú ngay trên đất Huế. 

Tướng lĩnh Pháp ngang nhiên ra vào hoàng thành, ngang nhiên nhúng tay can thiệp vào việc triều chính của đất nước. Quốc gia bên bờ suy vong, triều đình Huế phân hóa nghiêm trọng.

Trong ba "cố mệnh đại thần" được di chiếu của Tự Đức giao trọng trách Phụ chánh đại thần thì Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường là chủ soái của phe chủ chiến, trong khi Trần Tiễn Thành cầm đầu phái chủ hòa.

Tôn Thất Thuyết và phe chủ chiến đã thẳng tay loại trừ bất kỳ ai, kể cả vua, nếu dám chống lại hoặc cản trở chủ trương chống Pháp. Trong vòng một năm, 3 tân vương Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc đã lần lượt bị truất ngôi và bị giết chết theo lệnh của Tường, Thuyết.

Việc chuẩn bị cho cuộc kháng chiến càng trở nên gấp rút. "Quốc triều chính biên toát yếu" chép, cuối năm 1883, dưới triều Vua Kiến Phúc, Cơ mật Viện nhà Nguyễn đã cho "dời Nha Sơn phòng Quảng Trị tới làng Bảng Sơn (nay là xã Cam Nghĩa), lỵ sở phủ Cam Lộ cũng dời về trong Sơn phòng".

Tổng chỉ huy xây dựng Sơn phòng Tân Sở được chính cố mệnh đại thần Nguyễn Văn Tường đảm trách, có sự phụ tá đôn đốc của một loạt trọng thần như Phò mã Đặng Huy Cát, Tham biện Tôn Thất Lệ, Phó sứ Sơn phòng Nguyễn Tuy...

Cả hai cuốn "Đại Nam thực lục chính biên" và "Quốc triều chính biên toát yếu" đều có những ghi nhận thống nhất: Đầu năm 1885, về cơ bản, các công trình phòng ngự quân sự đã xem như hoàn tất. Thành Tân Sở dài 548m, rộng 418m, tổng diện tích khoảng 23 hécta bao quanh bởi một vòng hào khá sâu, rộng 10m.

Triều đình cho dựng thành, trồng tre, đào hào làm chiến lũy, đồng thời cho chở lương thực từ các tỉnh Hà - Nam - Ninh của đồng bằng Bắc Bộ theo đường biển vào Cửa Việt rồi đưa lên Tân Sở.

Từ kinh đô, rất nhiều vàng bạc, khí giới cũng được đốc thúc đưa ra chôn giấu tại đây. Riêng vũ khí, số lượng chuyển đi rất lớn, mất ròng rã 3 tháng mới hoàn tất. 

Theo dự định của Tôn Thất Thuyết, 1 triệu lượng (khoảng 33 tấn) vàng ròng, bạc nén sẽ được chuyển từ kho Phủ Nội vụ trong Kinh thành Huế lên Tân Sở. Nhưng mới chuyển được 1/3, khoảng 11 tấn thì giao tranh với Pháp đã nổ ra tại kinh thành nên phải tạm ngừng.

Đêm mùng 5, rạng sáng ngày 6/7/1885, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đem quân tấn công trại lính Pháp ở đồn Mang Cá. Sau một ngày giao tranh, quân nhà Nguyễn thất bại. 

Ấn Hoàng đế chi tỷ bằng Bạch ngọc , năm Minh Mạng
Ấn Hoàng đế chi tỷ bằng Bạch ngọc , năm Minh Mạng

Ngày 9/7, Tôn Thất Thuyết đã hộ giá (thực chất là bắt ép) Vua Hàm Nghi - mới lên ngôi chưa đầy 1 năm - rời Hoàng thành vượt lên Tân Sở. Pháp một mặt cho quân bộ đuổi theo, một mặt cho thủy quân kéo tàu ra biển Nhật Lệ (Quảng Bình) chặn đường.

Tôn Thất thuyết tự lượng thành Tân Sở không đủ sức chống đỡ nên vội phò giá Hàm Nghi vượt lên phía thượng ngàn Đắkrông - Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, từ đó vượt sang Châu mường Mahasay của Lào.

Khi Phan Đình Phùng hưởng ứng chiếu Cần Vương khởi nghĩa, lập xong căn cứ Vụ Quang, Vua Hàm Nghi lại vượt biên giới về đóng tại căn cứ núi Ấu (Hương Khê, Hà Tĩnh).

Thực dân Pháp đã xua đám tay sai do Tổng đốc Hoàng Cao Khải chỉ huy đuổi riết. Đoàn tùy tùng lại tiếp tục hộ giá Vua Hàm Nghi vượt đèo Quy Hợp vào đất Tuyên Hóa, Quảng Bình. Có thời gian, đoàn ngự giá hạ trại tại chân núi Mã Cú, nay thuộc địa phận xã Hóa Sơn, Minh Hóa, Quảng Bình - chính là nơi sau này Nguyễn Hồng Công đào tìm kho báu.

Rời kinh thành, ngoài châu báu tùy thân, Vua Hàm Nghi còn mang theo kim ấn "Ngự tiền chi bảo" - bảo vật truyền ngôi của nhà Nguyễn. Trước lúc rời Tân Sở, ngày 13/7/1885, Vua Hàm Nghi đã tự tay đóng ấn "Ngự tiền chi bảo" lên những tờ Hịch Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và dân chúng mọi miền đứng lên chống Pháp.

Thời gian Vua Hàm Nghi và đoàn tùy tùng lưu lại Tân Sở rất ngắn, chỉ chừng 4 hoặc 5 ngày. Ngay sau đó, Pháp đã chiếm Sơn phòng Tân Sở và san phẳng nơi này.

Với thời gian gấp gáp như vậy, lại liên tục trong tình trạng bị truy đuổi ráo riết một thời gian dài, gần như chắc chắn Vua Hàm Nghi và đoàn hộ giá không thể mang theo hết số bạc vàng châu báu, tiền bạc đã tập kết về Tân Sở từ đầu năm 1885. 

Ngoài một phần bị quân Pháp cướp lại, số mang theo được chắc chắn sẽ phải chia nhỏ, chôn giấu lại từng phần ở nhiều nơi dọc đường bôn tẩu.

Ngày 26/9/1888, tại khe Tá Bào, Tuyên Hóa, Quảng Bình, tên phản bội Trương Quang Ngọc đã dẫn binh giết sạch đoàn hộ giá, bắt Vua Hàm Nghi dâng cho giặc.

Trương Quang Ngọc, rồi thực dân Pháp đã lục xét đào xới khắp bốn chung quanh nơi vua hạ trại hòng tìm cướp báu vật mang theo, nhưng chỉ uổng công. 

Không ngọc tỉ, kim ấn, không bạc nén, vàng thoi, trong người đức vua chỉ còn lại một ít bạc lẻ và vài ba tấm bản đồ đánh dấu một số kho báu được chôn lại ở nhiều nơi.

Kẻ ngoài cuộc có cầm bản đồ trên tay cũng không tài nào xác định nổi vị trí của những tấm bản đồ vẽ sơ sài ấy... Trong khi đó, Vua Hàm Nghi thì trước sau không chịu nói thêm lấy nửa câu.





KHO VÀNG YAMASHITA : CUỘC CHIẾN GIỮA TỔNG THỐNG MARCOS VÀ TỈ PHÚ MANILA

Santa Romana , tay cựu tình báo ngầm khét tiếng với vai trò “người gác cổng” cho khối tài sản khổng lồ của CIA . Cuộc đời của ông nhiều lần gắn chặt với nỗi lo sợ về Tổng thống Marcos .

Tướng Mỹ kiểm tra một phần kho vàng Yamashita
Tướng Mỹ kiểm tra một phần kho vàng Yamashita

Có nhiều lời đồn thổi về mối quan hệ giữa Santy và Marcos. Có nguồn bảo rằng, 2 người này bắt đầu thân từ những năm đầu thập niên 1960, khi Marcos chưa lên làm tổng thống. Nhưng cũng có nguồn cho rằng Santy là bạn thân của Imelda khi bà còn là nữ hoàng sắc đẹp ở Leyte, thậm chí có nguồn còn nói Imelda từng là “mèo” của Santy.

Ở thời điểm này, Santy là mẫu đàn ông bất kỳ cô gái nào cũng mơ ước. Anh ta vừa cao lớn, đẹp trai, vừa mạnh mẽ, rất ga lăng với quý cô và quan trọng là... rất nhiều tiền.

Là người trực tiếp tra tấn tài xế của tướng Yamashita, Santy nhanh chóng giúp CIA khai quật toàn bộ số kho báu do tay tài xế này chỉ điểm. Từ đó, Santy trở thành người gác cổng cho các tài khoản vàng “đen” của CIA ở khắp nơi trên thế giới, với nhiều bí danh khác nhau. Khoảng năm 1970, tổng số tiền Santy đứng tên trên các tài khoản khác nhau lên đến 50 tỉ USD. Santy được hưởng phí hằng năm dựa trên tổng số tiền nắm giữ. Là người khôn khéo, hơn nữa, nghề tình báo giúp ông có một sự lựa chọn không ồn ào trong cuộc sống, Santy không bao giờ bước vào thế giới của những người nổi tiếng. Ở Philippines, người ta gọi ông là “The Man With No Name” (Người đàn ông không tên). Santy có một cuộc sống hoàn hảo, sở hữu nhiều căn nhà lớn ở Manila và Cabanatuan, và ông bao luôn một căn phòng suite suốt năm tại khách sạn Manila Hilton. Bên ngoài Philippines, chẳng ai biết đến cái tên Santy cả, trừ giới chủ ngân hàng. Và cũng chưa có bài báo nào viết về một “tỉ phú bí mật của Manila” cả.

Người được cho là Santa Romana (Santy)
Người được cho là Santa Romana (Santy)

Tại Philippines, tiền của Santy đưa Fernando Marcos lên ghế tổng thống vào năm 1965. Trong The Marcos Dynasty (Đế chế Marcos), tác giả Sterling & Peggy Seagrave mô tả vị tổng thống Philippines này “đã làm tất cả những gì có thể để hài lòng Mỹ và CIA trong việc mở rộng chiến tranh tại Đông Dương”. Marcos thuyết phục Nhà Trắng rằng ông có thể giúp “bán cuộc chiến tranh VN cho tất cả các quốc gia Đông Nam Á khác bằng cách dùng tiền của Santy để hối lộ lãnh đạo các quốc gia này”.

Khi ngồi vào ghế tổng thống, Marcos tiếp tục ủng hộ Mỹ ở chiến tranh Đông Dương. Đổi lại, Marcos đòi Nhà Trắng phải cam kết giữ vững cho ông ta ghế tổng thống. Marcos được giữ ở dinh Malacanang đến tận năm 1986 trước khi sụp đổ dưới triều Tổng thống Reagan.

Cuối nhiệm kỳ 4 năm đầu tiên, Marcos gặp khủng hoảng với giới truyền thông. Imelda bị báo chí tẩn một trận tơi tả vì xài một phát 3,3 triệu USD chỉ trong 1 ngày shopping tại New York năm 1968. Cùng thời điểm này, Imelda mở những tài khoản khủng tại City Bank ở Manhattan. Cũng tại nhà băng này, tài liệu thuế cho thấy rằng Santy cũng có những tài khoản lớn bằng tiền mặt và vàng thỏi.

Cùng thời gian này, CIA có thay đổi lớn trong đội ngũ lãnh đạo. Những người từ tổ chức tiền thân OSS từng nhúng tay vào các hoạt động tìm kiếm kho báu năm 1945 - 1947 dần bị chuyển đi, những nhân vật mới lên không nắm được toàn bộ số tài khoản Santy đang giữ. Từ nhiều năm nay, Santy được bảo vệ bởi những tay CIA cộm cán này. Giờ đây họ không còn tại vị để bảo bọc Santy, Marcos nắm ngay bối cảnh nhá nhem đó nên liên tục dọa dẫm, gây sức ép buộc Santy phải chuyển giao toàn bộ tài khoản.

Tổng thống Marcos
Tổng thống Marcos

Mệt mỏi sau 25 năm làm nghề “gác cổng”, Santy bắt đầu nghiện rượu và mất kiểm soát đối với Marcos. Bạo lực là một phần của lịch sử dinh Malacanang. Dinh này nổi tiếng với một căn phòng gọi là Black Room, nơi đây, nhiều người đã bị tra tấn và bị sát hại. Bất kỳ ai qua mặt tổng thống đều bị sát hại một cách ghê rợn, xác bị vứt ngoài vệ đường, tròng mắt bị móc ra và treo trên thân cây.

Trước những đòn tấn công liên tục của Marcos, Santy bắt đầu có những bước đi nhằm tự bảo vệ mình, bảo vệ tiền, vàng trước nguy cơ bị Marcos ra sắc lệnh tịch thu. Người được Santy tin tưởng là Tarciana Rodgriguez - cháu gái của Luz Rambano - tình nhân của Santy trong 3 năm cuối đời. Santy biến Tarciana thành thủ quỹ của tất cả các công ty bề nổi của mình, giao cho cô quản lý những tài khoản hàng tỉ USD tiền mặt, vàng thỏi, sổ gửi vàng, chứng khoán và nhiều tài sản khác trên toàn thế giới.

Sau khi Marcos ra tay cướp bức tượng Phật vàng và bắt nhốt, tra tấn Rosax để tìm ra kho báu, Santy bắt đầu cảm thấy sợ. Santy đem theo 43 triệu USD, kéo Luz đến First National City Bank (bây giờ là Citybank) để mở tài khoản. Số tiền này toàn mệnh giá nhỏ, khiến nhân viên ngân hàng phải đếm mất 6 ngày mới hoàn tất.

Santy cũng thuê 9 két riêng tại ngân hàng này để đựng tiền mặt và trang sức. Ngay trước ngày Marcos áp dụng thiết quân luật, Santy đã nhanh tay chuyển 800 triệu USD ra khỏi Philippines, từ First National City Bank Manila sang City Bank of New York.

Cuộc tranh giành kho báu Yamashita
Cuộc tranh giành kho báu Yamashita

Ngày 27.2.1973, Marcos cho quân triệu Santy đến dinh Malacanang. Trong phòng riêng của tổng thống, Santy bị ép phải ký vào một bản di chúc được lập sẵn, nội dung là Santy (với tất cả những tên gọi, bí danh giao dịch trước đây) đồng ý để lại toàn bộ bất động sản, tài khoản tiền mặt, vàng nén... ở các ngân hàng thế giới cho vợ là Julietta Huerto được toàn quyền sử dụng.

Bản di chúc này, về kỹ thuật thì Santy để lại tài sản cho người vợ đã ly thân (đạo Công giáo ở Philippines không cho phép ly dị), nhưng ai cũng hiểu, một khi Santy chết, Marcos sẽ dễ dàng cưỡng bức Huerto và các tài khoản sẽ nhanh chóng chuyển qua tay Marcos.

Chỉ 1 tháng sau, tháng 3.1973, Santy lại một lần nữa có cảm giác sợ hãi và ông chuyển 500 triệu USD từ Manila sang HSBC của Hồng Kông. Cùng thời gian này, các tài liệu ngân hàng cũng cho thấy ông cũng chuyển 1.640 tấn vàng đến một ngân hàng Hồng Kông, sau đó đến tiếp Sanwa Bank của Nhật. Không lâu sau đó, trong một chuyến đi đến Tacloban, Leyte, Santy uống quá nhiều và nói toạc toàn bộ nỗi sợ hãi của mình đang đối mặt. Lập tức, lính của Marcos đến bắt cả ông và cô bạn gái Luz vì tội danh “nói xấu sau lưng tổng thống” và giam giữ 2 người tại một căn cứ quân sự trên đảo Leyte.


Theo TNO

Xem tiếp : Kho vàng Yamashita