Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn huyền thoại kho vàng. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn huyền thoại kho vàng. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

KHO VÀNG YAMASHITA

Bằng cách “hỗ trợ” đầu tư hạ tầng , đầu tư xây dựng dự án tại những nơi “nghi vấn” . Nhật Bản kì vọng thu hồi tất cả kho Vàng Yamashita được chôn dấu tại Philipines . Tuy nhiên , mọi chuyện không đơn giản với vị Tổng thống nhanh nhạy F.Marcos .


kho vang yamashita
Kho vàng Yamashita


Năm 1971, phu nhân ông Marcos, bà Imelda, bị bắt gặp xài hơn 3 triệu USD chỉ trong 1 ngày mua sắm ở New York. Hỏi vì sao giàu trong khi lương tổng thống thì bèo bọt, Marcos cười sảng khoái và bảo “nhờ tìm ra kho vàng của Yamashita”.

Cuối thập niên 1950, nhiều toán người Nhật âm thầm trở lại Philippines tìm cách hợp tác làm ăn, song thực chất là săn lùng số kho báu giấu lại ở Đệ nhị thế chiến.

Chính quyền Tokyo cũng đề nghị sẵn sàng giúp Philippines “hàn gắn vết thương chiến tranh” bằng những dự án hạ tầng miễn phí, bao gồm đầu tư cho hệ thống thủy lợi, đường sá, làm đường hầm xuyên núi. Các công ty cứu hộ Nhật xin được nạo vét, khơi thông dòng chảy cho vịnh Manila bằng cách trục vớt tàu đắm ở đây. Bằng cách này, họ đã vớt được nhiều xác tàu bên trong chứa của cải quân Nhật chuyên chở trước khi chìm xuống biển.

Nhiều công ty xây dựng của Nhật cũng đổ xô sang Philippines, làm những dự án ở các vị trí “nghi có vàng” trên khắp đất nước Philippines. Họ thuê công nhân Philippines làm việc trên những dây chuyền sản xuất ti vi, cassette, máy tính, tủ lạnh hay máy lạnh... ra sản phẩm, tất cả được đóng thùng chuyển sang Nhật. Trong đó, có nhiều thùng hàng được ghi nhận là “rất nặng”. CIA có những thông tin cho biết người Nhật đã tìm lại được không ít vàng cất giấu thời Đệ nhị thế chiến và chuyển về chính quốc bằng cách này, song CIA đã không can thiệp.

Marcos biết được thông tin về kho báu hoàn toàn tình cờ. Binh sĩ của ông phát hiện 2 người đàn ông Nhật, vốn là cựu binh quân đội Nhật hoàng, đang hì hục đào một cái hố tại Ilocos Norte, quê hương của Marcos ở tây bắc Luzon. Họ cố tìm lại những thỏi vàng to bằng cái bánh quy giấu riêng từ thời chiến. Marcos ra lệnh tịch thu số vàng này.

Khi ấy, Marcos là một chính trị gia trẻ, nhạy bén. Từ những thỏi vàng thu được của 2 cựu binh Nhật, ông cũng nghe loáng thoáng về câu chuyện Santy khai quật thành công các kho vàng trước đó. Marcos tìm cách tiếp cận, tạo quan hệ, dần dần ông bắt đầu thay Santy điều hành một số hoạt động, trong đó có chiến dịch The Umbrella.

Khi đắc cử tổng thống năm 1965, Marcos trực tiếp tiến hành tìm kiếm kho báu. Đầu tiên, ông hợp tác với trùm thế giới ngầm Sasakawa Ryoichi để cùng tìm kiếm và chia phần. Sasakawa là bạn nối khố của Kodama - trùm xã hội đen Nhật Bản được Nhật hoàng huy động trong chiến dịch Hoa Huệ Vàng, cướp bóc tài sản trong thế giới ngầm của 12 quốc gia thời chiến tranh, đặc biệt là Trung Quốc. Do đó, Sasakawa biết chỗ giấu vàng, còn Marcos trao cho Sasakawa quyền tìm kiếm. Nhưng kho vàng thực sự khiến Marcos nổi tiếng cả thế giới không đến từ sự hợp tác này, mà từ một anh thợ khóa Roger Roxas.

Tháng 1.1971, một thợ khóa người Philippines kiêm nhà săn kho báu nghiệp dư tên Roger Roxas bò vào một đường hầm do quân Nhật đào thời chiến và tìm thấy một bức tượng Phật ngồi bằng vàng cao gần 10 feet (chưa đến 90 cm), nặng khoảng 1 tấn và được đúc theo phong cách Miến Điện.
Thường ngày, Roxas kiếm sống bằng nghề mua bán lặt vặt ở khu resort Baguio, kiêm luôn chức Chủ tịch Hiệp hội Săn lùng kho báu Philippines. Roxas tiếp xúc rất nhiều du khách Nhật. Một lần, vị khách Okubo Eusebio nói với Roxas rằng khi còn trẻ, ông ta phiên dịch cho tướng Yamashita và biết Yamashita đã chở một lượng vàng bạc lớn từ Manila đến Baguio để mua lương thực cho binh sĩ trong năm cuối chiến tranh. Okubo nói rằng số vàng đó được cất trong những thùng gỗ, giấu dưới đường hầm gần Bệnh viện đa khoa Baguio. Okubo cũng cho Roxas biết ông đã thấy một bức tượng Phật bằng vàng ở gần tu viện vốn là nơi ở và tổng hành dinh của tướng Yamashita.

Một người Bồ Đào Nha khác tên Albert Fuchigami lại nói với Roxas rằng cha ông là người Nhật đã để lại cho ông nhiều tấm bản đồ kho báu. Gia đình Fuchigami có một sạp bán rau quả ngoài chợ. Ông này nói rằng cha ông có lần đã dẫn ông vào một đường hầm phía sau Bệnh viện Baguio. Đây là đường hầm có lối đi đủ to cho các xe đẩy tay và bên trong chứa toàn vàng. Trước khi chết, cha Albert đã cho ông số bản đồ này.

Roxas là bạn của John Ballinger - sĩ quan Mỹ từng chiến đấu ở Luzon trong đơn vị du kích của đại úy Medina. Chính Ballinger từng chụp ảnh chiếc tàu Fuji Maru ngụy trang thành tàu cứu thương và theo đoàn xe quân sự chở vàng từ vịnh Subic giấu trong hang núi. Sau đó, khi đại đội của Medina thâm nhập Baguio, Ballinger quan sát thấy quân Nhật mang những thùng rất nặng vào trong đường hầm gần bệnh viện. Quân du kích sau đó tấn công bằng súng máy và lựu đạn, đánh sập cửa đường hầm, nhốt sống quân Nhật bên trong. Sau cuộc chiến, Ballinger trở về Mỹ, sống ở New Mexico. Trong một lần trở lại Philippines, John Ballinger nói với Roxas rằng ông nhớ lối vào đường hầm nằm ở gần một hố công sự bê tông. Tuy nhiên, Ballinger không thể chỉ được cái hố đó ở đâu vì hiện trường đã thay đổi qua mấy chục năm.

Phân tích thông tin thu nhặt được từ Fuchigami, Okubo và Ballinger, Roxas kết luận chắc chắn là đường hầm đó tồn tại, vấn đề là phải tìm ra cái hố công sự bê tông đó. Roxas nộp đơn xin chính quyền cho phép được đào tìm kho báu. Thẩm phán vùng Baguio Pio Marcos là cậu của Tổng thống Marcos. Theo đó, chính phủ Philippines sẽ được chia 30% tổng số của cải tìm thấy.

Đầu năm 1970, Roxas cùng nhân công tìm ra đường vào đường hầm bị sập. Nhưng muốn mở được cửa lối vào, quân của ông phải đào thêm 7 tháng nữa. Và sau khi thông đường hầm, đám công nhân lập tức bị dội trở lại vì một luồng xú uế từ các thi thể. Roxas phải đợi 1 tuần lễ trước khi bò được vào bên trong…

Xem tiếp : kho vàng Yamashita


Theo TNO




KHO BÁU VUA HÀM NGHI - KỲ 2

Không chỉ là giai thoại , Sự thật về Kho báu vua Hàm Nghi ngày càng được hé lộ .

Hướng Hóa , Quảng Trị
Hướng Hóa , Quảng Trị

Đầu những năm 1980, đồng bào dân tộc Vân Kiều ở gần cầu Đắkrông, Quảng Trị (cạnh Nghĩa trang Trường Sơn hiện nay), trong khi đi bắt cá khe đã tình cờ phát hiện trong một hốc cây lớn chìm dưới suối cả một kho tàng gồm toàn tiền cổ bằng vàng ròng và những thoi vàng nặng 1 lượng.

Một đoàn khảo sát của Bảo tàng Trung ương cũng tình cờ phát hiện được tại bản Sê Bu, xã Hướng Phùng, Hướng Hóa, Quảng Trị một chiếc áo dài màu đen, lót lụa đỏ, thêu kim tuyến và hình rồng 5 móng được cho là áo bào của Vua Hàm Nghi. Thời nhà Nguyễn, chỉ có vua mới được thêu rồng 5 móng.
Một số tài liệu trước đó từng ghi nhận, trước khi chia tay để thoát sang Châu mường Mahasay (tỉnh Khăm Muộn, Lào), Vua Hàm Nghi đã cởi áo bào tặng cho một người Vân Kiều tên là Ku Xin, vì đã có công giúp đỡ đoàn hộ giá.

Tại thôn 5, xã Hải Phúc (huyện Đắkrông), Bảo tàng tỉnh Quảng Trị cũng phát hiện được trong một gia đình Vân Kiều có chiếc mâm đồng cổ rất lớn chạm 2 con rồng 5 móng và 5 chữ Hán: Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh.

Ở Quảng Bình, ông Thái Xuân Bạ, nguyên Phó chánh án Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa cho biết, khoảng những năm 50, bố ông tham gia dân quân xã, từng được huy động đi thu gom "vàng Vua Hàm Nghi" do dân xã Trung Hóa phát hiện.

Tổng cộng có 3 nong phơi lúa tiền chữ "Đại" bằng vàng ròng, mỗi đồng nặng 12 chỉ được gom về sân nhà ông Bạ trước khi đem giao nộp cho chính quyền. Ông Bạ và một số trẻ con hàng xóm đã "nhón" đi mỗi người khoảng 10 đồng để dành... đánh đáo.

Tại thôn Đặng Hóa, Hóa Sơn, huyện Minh Hóa, năm 1956, sau trận lụt lớn, người dân trong xã đã phát hiện và vớt được vô số tiền vàng từ một hốc đá trôi ra suối, thu được hàng tạ, đem nộp lại toàn bộ cho Nhà nước.

Gần hơn, giữa tháng 4/2003, một đám trẻ chăn trâu đã tình cờ phát hiện được tại hang Lèn, xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình một chiếc tráp gỗ, bên ngoài khắc chữ Hán và hoa văn nhũ vàng rất đẹp. Đưa xuống núi, chiếc tráp đã tự động mục rã ra.

Hang Lèn
Hang Lèn

Bên trong tráp có một quả cau bằng kim loại màu đen, hai lư hương bằng đồng và 2 chìa khóa kiểu cổ. Một thanh niên trong làng đã lừa đám trẻ lấy mất quả cau màu đen (nghi chế tác bằng đồng đen). Hai lư hương và hai chiếc chìa khóa, Sở Văn hóa Thông tin đã kịp thời thu giữ để giám định.

Gần 1 năm sau, ngày 30/12/2003, trong khi đào đất trên ruộng, người dân Văn Hóa đã bất ngờ đào được hàng chục chum vại đựng đầy tiền cổ triều Nguyễn được chôn cách mặt đất chỉ chừng 0,6m. Suốt buổi chiều và đêm hôm đó, toàn bộ số tiền cổ này đã được thương lái đến mua và đem đi mất, trước khi chính quyền địa phương phát hiện và ngăn chặn.

Thông tin chi tiết về vụ việc, chúng tôi đã có dịp đề cập đầy đủ trong bài báo "Quảng Bình: Hàng tấn tiền cổ được phát hiện và… biến mất" (tác giả Hồng Lam - Tâm Phùng) đăng trên Chuyên đề ANTG phát hành ngày 3/1/2004.

Đầu năm 2009, UBND huyện Tuyên Hóa, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Quảng Bình cũng đã tiếp nhận 3 đồng tiền vàng của bà Nguyễn Thị Liên, trú tại thôn Tân Sơn, xã Sơn Hóa, Tuyên Hóa. Con dâu bà Liên đã phát hiện 3 đồng tiền cổ này tại khe nước Trọt Su trong xã.

Những đồng tiền này đều đúc bằng vàng 999,9%, mỗi đồng nặng 5 chỉ vàng. Có 2 đồng đường kính 2,8cm, đồng còn lại đường kính 2,4 cm. Khác kích thước nhưng giống nhau về cách trang trí, một mặt có họa tiết mặt trời, mặt kia có 4 chữ "Hàm Nghi thông bảo". Rất có thể, đây là những đồng tiền được đúc dập sau khi Vua Hàm Nghi đã trên đường bôn tẩu.

Một vài di vật được tìm thấy
Một vài di vật được tìm thấy


Một chứng cứ xác đáng được nhiều người biết nữa xuất hiện vào giáp tết Nguyên đán năm 2007. Nhà báo Văn Cầm Hải và nhóm làm phim thời sự của VTV1 khu vực Thừa Thiên - Huế đã phát hiện và quay được tại xã Phú Gia, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh, một loạt những di vật của Vua Hàm Nghi.

Kho báu gồm một cặp kiếm, 6 hoàng bào, một cặp voi vàng, cau, trâu vàng... vẫn được gìn giữ nguyên vẹn trong một miếu thờ có 3 chìa khóa, do 3 người cất giữ. Miếu cất giữ những báu vật này nằm cách căn cứ Sơn phòng xưa chỉ chưa đầy 2km.

Rõ ràng, kho báu Vua Hàm Nghi là một hiện thực lịch sử, không chỉ là huyền thoại. Những phần kho báu đó chôn giấu những đâu, chôn giấu như thế nào là một bí ẩn lớn của lịch sử, chưa ai tìm ra lời đáp. Nhưng chắc chắn nó không phải là câu chuyện hoang đường

Theo Vietnamnet



Chủ đề liên quan : kho báu , kho báu vua Hàm Nghi , huyền thoại kho vàng


KHO VÀNG YAMASHITA : BỨC TƯỢNG PHẬT VÀNG NẶNG 1 TẤN

Đầu năm 1970, Roxas cùng nhân công tìm ra đường vào đường hầm bị sập. Nhưng muốn mở được cửa lối vào, quân của ông phải đào thêm 7 tháng nữa. Và sau khi thông đường hầm, đám công nhân lập tức bị dội trở lại vì một luồng xú uế từ các thi thể. Roxas phải đợi 1 tuần lễ trước khi bò được vào bên trong…

Bức tượng phật kho vàng Yamashita
Bức tượng phật kho vàng Yamashita


Mất nhiều tuần đào vòng quanh nữa, họ mới lần ra được lối thông ra đường hầm chính nhờ có lối đi đủ to cho xe đẩy tay như ông bố của Albert Fuchigami đề cập, cùng với hệ thống dây điện chiếu sáng trong hầm.

Trên bề mặt nhớp nhúa của đường hầm chính, Rosax phát hiện ra một phiến bê tông dày 3 m và ông quyết định khoan nó. Ngày 24.1.1971, phiến bê tông bị xuyên thủng, Rosax thấy ngay một bức tượng Phật. Mặc dù cao chưa đến 10 feet (90 cm), song Rosax phải huy động 10 người cùng hệ thống dây xích, ròng rọc mới có thể nhấc được bức tượng lên. Sau đó, họ phải dùng những khúc gỗ làm con lăn, cũng khó nhọc lắm mới kéo được bức tượng ra ngoài. 

Rosax mượn một chiếc xe tải và lợi dụng màn đêm, ông và các bạn của mình chở bức tượng về nhà, bọc lại bằng một tấm drap trải giường và giấu phía sau phòng ngủ.

Tiếp tục trở lại đường hầm, Rosax tìm thấy một thùng gỗ nhỏ, mở ra thì thấy có 24 thỏi vàng 24 karat, mỗi thỏi có kích cỡ (2,5 x 5 x 1,25) cm và nặng tương đương 30 ounce (933 gr). Với giá cả của năm 1971, mỗi thỏi trị giá 1.050 USD. Vậy tính ra cả thùng là 25.000 USD. Ngay gần đó, Rosax phát hiện một căn phòng rộng 1,8 x 9 m, bên trong là những hòm gỗ xếp chồng lên nhau. Mỗi hòm to bằng một thùng bia, thích hợp để đựng những thanh vàng 75 kg.

Rosax không mở những thùng gỗ đó ra vì ông đã biết mình tìm ra cái gì. Rosax đem 24 thỏi vàng về nhà, cùng vài cây kiếm, lưỡi lê. Nhiều ngày sau, sợ ai đó phát hiện ra kho báu của mình, Rosax đánh sập cửa hầm. Trước mắt, Rosax cần kiếm một số tiền đủ lớn để tiếp tục công việc khai thác kho báu một cách an toàn.

Để làm việc đó, Rosax bán những thỏi vàng tìm được và bắt đầu tìm kiếm người mua tượng Phật. Đây là một quyết định sai lầm mà sau này ông phải hối hận.

Tin đồn Rosax tìm ra tượng Phật bằng vàng lan nhanh. Hai vị khách đến xem. Họ khoan những lỗ nhỏ ở gần cổ bức tượng và cả hai đều ước lượng tượng được làm bằng vàng có độ tuổi từ 20 - 22 karat, một loại vàng phổ biến ở châu Á trước năm 1940.

Vào ngày Cá tháng 4 năm 1971, người thứ 3 đến tìm mua tượng Phật tên là Joe Oihara. Vị khách này tự giới thiệu là người Nhật, nói với Rosax là ông ta đang ở nhà của mẹ Tổng thống Marcos. Oihara xem xét tượng Phật rất kỹ và ngỏ ý rất muốn mua. Ông hứa vài ngày sau sẽ trở lại và đặt cọc trước 1 triệu peso. Rosax nhận thấy Oihara đặc biệt chú ý đến cổ bức tượng. Khi vị khách ra về, Rosax và người em trai Danilo cố xoay thử đầu bức tượng, thậm chí dùng cả đến búa và rìu để xoay. Bất ngờ, bên trong lộ ra một lỗ hổng to, chứa 3 nhúm kim cương. Rosax lấy kim cương và xoay cổ tượng Phật trở lại vị trí cũ.

4 ngày sau, lúc 2 giờ 30 ngày 5.4, có 8 người đàn ông mặc quân phục, tay cầm tiểu liên đập cửa nhà Rosax, bảo rằng là người của cục điều tra tội phạm, yêu cầu được xét nhà. Rosax thoạt đầu không định mở, song 2 binh sĩ đã đập cửa sổ bên cạnh, thò súng vào và lệnh cho Rosax trong vòng 3 phút phải mở cửa, nếu không thì chết.

Khi Rosax mở cửa, Oihara có mặt ở đó. Đám lính đưa ra lệnh xét nhà do… thẩm phán Pio Marcos ký. Lệnh khám yêu cầu tịch thu bức tượng Phật cùng với những tài sản khác để chuyển giao cho nhà chức trách trước khi phiên tòa sẽ diễn ra tiếp theo.

Rosax không ở nhà một mình. Cậu em trai Danilo phản ứng, lập tức lãnh cơn mưa báng súng. Tượng Phật, kim cương và 7 thỏi vàng còn lại, vài thanh kiếm, một bộ sưu tập tiền xu, thậm chí cả con heo tiết kiệm cũng bị tịch thu và mang đi. Đám lính cũng tịch thu khẩu súng calib của người bạn để lại, sau đó cáo buộc Rosax tàng trữ vũ khí trái phép. Tuy nhiên, tất cả tài sản bị đem đi không hề được chuyển đến tòa án.

Ngay sau đó, Rosax ra đồn cảnh sát trình báo và thông báo cho báo giới. Xong, ông đến tìm thẩm phán Pio Marcos, hỏi tại sao “ông đã ký lệnh cho tôi tìm vàng ăn chia rồi lại ra lệnh xét nhà tôi”. Vị thẩm phán cho biết ông buộc phải làm việc đó vì sức ép của thằng cháu - Tổng thống Marcos. Ông cũng nói thật là đáng tiếc cho Rosax vì đã trình báo cảnh sát và báo chí, cho rằng có khả năng ông sẽ bị giết.

Để đề phòng, Rosax phải đưa cả gia đình đến ẩn náu tại Cabanatuan, một thành phố ở đông bắc Manila, với sự giúp đỡ của vị thống đốc ở đây. Ông này đã phái 4 vệ sĩ đến bảo vệ Rosax và thu xếp cho gia đình họ một nơi ở để ẩn náu. Cùng lúc, một thẩm phán khác ở Baguio đã ra lệnh phía quân đội phải trả lại bức tượng Phật cho tòa, theo như điều khoản đã ghi trong lệnh khám xét. Phía quân đội lần lữa kéo dài thời gian, trong khi một nghệ nhân ở Manila đang gấp rút hoàn tất một phiên bản của bức tượng, làm bằng đồng thau. Bức tượng bằng đồng này, có cái đầu không xoay được và trông không giống bản chính, đã được đem đến trả cho tòa. Từ đây, thảm họa bắt đầu ập xuống Rosax và gia đình... 

Yamashita và tượng Phật vàng
Yamashita (trái) và tượng phật vàng


Ngay sau đó, Rosax ra đồn cảnh sát trình báo và thông báo cho báo giới. Xong, ông đến tìm thẩm phán Pio Marcos, hỏi tại sao “ông đã ký lệnh cho tôi tìm vàng ăn chia rồi lại ra lệnh xét nhà tôi”. Vị thẩm phán cho biết ông buộc phải làm việc đó vì sức ép của thằng cháu - Tổng thống Marcos. Ông cũng nói thật là đáng tiếc cho Rosax vì đã trình báo cảnh sát và báo chí, cho rằng có khả năng ông sẽ bị giết.

Để đề phòng, Rosax phải đưa cả gia đình đến ẩn náu tại Cabanatuan, một thành phố ở đông bắc Manila, với sự giúp đỡ của vị thống đốc ở đây. Ông này đã phái 4 vệ sĩ đến bảo vệ Rosax và thu xếp cho gia đình họ một nơi ở để ẩn náu. Cùng lúc, một thẩm phán khác ở Baguio đã ra lệnh phía quân đội phải trả lại bức tượng Phật cho tòa, theo như điều khoản đã ghi trong lệnh khám xét. 

Phía quân đội lần lữa kéo dài thời gian, trong khi một nghệ nhân ở Manila đang gấp rút hoàn tất một phiên bản của bức tượng, làm bằng đồng thau. Bức tượng bằng đồng này, có cái đầu không xoay được và trông không giống bản chính, đã được đem đến trả cho tòa. Từ đây, thảm họa bắt đầu ập xuống Rosax và gia đình...

Xem tiếp : kho vàng Yamashita



Theo TNO



KHO VÀNG YAMASHITA : ROSAX VÀ TỔNG THỐNG MARCOS

Lẩn trốn trong “địa bàn” của một Tổng thống , Rosax nhanh chóng bị phát hiện chỉ vài ngày sau tại Cabanatuan .

Rosax và tượng phật vàng
Rosax và tượng phật vàng 

Tiên lễ hậu binh, Rosax được đề nghị trả 3 triệu peso với điều kiện phải công khai xác nhận bức tượng Phật bằng đồng chính là bức tượng ông tìm thấy.
Cuối tháng 4, được chánh án tòa tối cao đảm bảo tính mạng, Rosax trở lại Baguio để xác nhận bức tượng.

Cùng trở về với Rosax có 4 vệ sĩ và 2 công tố viên, luật sư riêng của Rosax cùng một đội ngũ phóng viên báo chí, truyền hình. Tại tòa, Rosax dũng cảm (hay ngu xuẩn) tuyên bố bức tượng Phật là giả vì khác màu, nét mặt khác và cái đầu không xoay được. Thêm nữa, bức tượng cũng không có những dấu khoan nhỏ trên cổ.

Giới báo chí lặng người vì một người đàn ông dám thách thức quyền lực của cả gia đình Tổng thống Marcos. Tuy nhiên, đảng Tự do đối lập lại phấn khích trước những lời tuyên bố đó. Họ xem coi đây là cơ hội để đánh bại Marcos trong cuộc tranh cử tổng thống sắp tới.

Lãnh đạo đảng đối lập thuyết phục Rosax ra làm chứng ở Thượng viện trong cuộc điều tra “Vụ bức tượng Phật bằng vàng”. Ngày 4.5.1971, Rosax cung cấp toàn bộ chứng cứ trước nghị viện. Tổng thống Marcos lập tức lên tiếng đây là một âm mưu chính trị nhằm tấn công ông ta và đe dọa sẽ có một cuộc trả đũa.

14 ngày sau, Rosax trở về ẩn nấp ở Cabanatuan thì một lần nữa lại bị truy lùng và bắt giữ. 3 mật vụ của Marcos mặc thường phục đã bắt và đưa Rosax đến nhà một sĩ quan cảnh sát, đánh đập dã man. Trong bóng tối lờ mờ, một viên cảnh sát đưa cho Rosax xem tấm hình của vợ, con và dọa: Nếu còn muốn gặp lại họ, ông phải cung cấp tên những nghị sĩ đã xúi ông ra làm chứng ở Thượng viện, và phải khai chỗ cất giấu kho vàng. Rosax từ chối, lập tức ông bị chích điện ở khắp người, và bị gí bỏng bởi tàn thuốc lá.

Đám cảnh sát tiếp tục đưa Rosax đến một khách sạn ở Angeles City. Tại đây, cảnh sát giam và tra tấn ông liên tục trong 2 tuần lễ. Lần này ông bị đánh vào đầu và mặt bằng gậy cao su cho đến khi ngất. Đến giờ, mắt trái của ông bị mù. Những kẻ tra tấn buộc ông phải ký vào một tờ giấy xác nhận là việc lục soát nhà ông đã diễn ra một cách ôn hòa, và những binh sĩ lục soát không hề mang vũ khí.

Một hôm, Rosax bị đưa trở lại tòa án ở Baguio. Đêm đó, ông mở được khóa cửa sổ và chạy đến trốn ở nhà người chị. Ông gọi điện cho một thượng nghị sĩ, trình bày những việc đã xảy ra và một lần nữa lại được yêu cầu làm chứng trước Thượng viện. Rosax đã làm điều đó vào ngày 30.6.1971, tố cáo hết những gì đã xảy ra với ông.

Đến đầu tháng 7, Rosax lại bị bắt vì “không đến tòa trình diện vì bị cáo buộc tàng trữ vũ khí trái phép”. Ông bị tuyên án phạt tù vì không xuất hiện trong trát gọi hầu tòa trước đó. Sau 1 tháng ở tù, ông được bảo lãnh tại ngoại bởi một luật sư do thượng nghị sĩ Sergio Osmena Jr - lãnh đạo đảng Tự do đối lập, có cha từng làm tổng thống Philippines, cử đến. Rosax được đưa lên máy bay riêng chở đến Plaza Miranda, nơi ông Osmena yêu cầu Rosax nói chuyện trong một cuộc tuần hành chính trị tối hôm đó.

Tổng thống Ferdinand Marcos
Tổng thống Ferdinand Marcos

Cuộc tuần hành thu hút một đám đông khổng lồ với nhiều lãnh tụ đối lập. Rosax được dặn ngồi yên trên một chiếc xe cho đến khi được yêu cầu bước ra sân khấu. Vài phút sau, ai đó ném 2 quả lựu đạn lên sân khấu. Đám đông hỗn loạn. 10 người thiệt mạng và 66 người khác bị thương, trong đó có cả thượng nghị sĩ Osmena. Nhiều nguồn tin nghi ngờ vụ ném lựu đạn này do Marcos ra tay. Trong khi đó, Marcos đổ lỗi cuộc tấn công là do phe cộng sản. Marcos đình chỉ lệnh quyền được miễn tố và ra lệnh bỏ tù nhiều đối thủ chính trị.

Hoảng sợ, Rosax trốn biệt khỏi Manila trong suốt 12 tháng. Khi trở về nhà vào tháng 7.1972, ông lập tức bị 2 mật vụ canh trước nhà bắt giữ. Họ đưa Rosax đến một căn cứ hải quân ở tỉnh Zambales và giam giữ ông tại đây. Những câu hỏi thẩm vấn xoay quanh Rosax vẫn là nơi phát hiện tượng Phật vàng ở đâu?
Tháng 1.1973, Rosax lại thua trong phiên tòa phúc thẩm xử tội tàng trữ vũ khí trái phép. Rosax bị đưa đến nhà tù Baguio, tại đây, ông ít nhất 2 lần bị đánh đập và tra vấn địa điểm hầm chứa vàng. Sau khi thụ án gần 2 năm, Rosax ra tù và trở về nhà.

Không thể bắt ép và thuyết phục Rosax hợp tác, Marcos cho người nhổ từng cái răng của Olimpio Magbanua - người cộng tác với Rosax trong việc đào bới. Anh này không chịu nổi và khai nơi cửa vào đường hầm.

Một ngày năm 1974, nhân viên Bệnh viện Baguio nhìn thấy các binh sĩ khiêng ra từng hòm nặng, mỗi hòm cần 4 - 6 người khiêng. Có hòm vỏ gỗ bên ngoài đã mục nát, bị vỡ và làm rơi ra 3 thanh vàng to cỡ 1 tút thuốc lá, nặng tầm 75 kg. Các nhân viên bệnh viện ước tính mỗi ngày có 5 hòm như thế được đưa lên xe tải trong suốt quãng thời gian dài, ước tính khoảng 3.600 hòm, tổng cộng 10.800 thanh vàng nặng 75 kg mỗi thanh.

Rosax biết quân đội đã tìm ra kho báu của ông và đã đánh cắp hết số vàng ông tìm thấy. Năm 1976, đầu hàng số phận, ông đưa gia đình đến một nơi bí mật và họ ở đó yên ổn trong 10 năm. Rosax xuất hiện trở lại vào năm 1986, sau khi Tổng thống Ferdinand Marcos và bà vợ Imelda Marcos bị chính quyền Tổng thống Ronald Reagan truất phế và đưa đi lưu vong ở Hawaii. Lúc này, Rosax trở lại bắt đầu cho một vụ kiện lớn nhất trong lịch sử các vụ kiện dân sự, yêu cầu Marcos trả lại số vàng bị cướp.

Sau nhiều năm đeo đuổi vụ kiện, năm 1998, tòa án tối cao Hawaii đã tuyên phía Imelda Marcos (lúc này cựu Tổng thống Marcos đã qua đời) phải bồi thường cho phía Roger Rosax 22 tỉ USD, là số tiền chiếm đoạt từ bức tượng Phật vàng và số vàng Rosax tìm kiếm được. Đây là mức bồi thường án dân sự lớn nhất trong lịch sử thế giới.


Theo TNO

Xem tiếp: Kho vàng Yamashita



KHO BÁU VUA HÀM NGHI - KỲ 1

Hàm Nghi , Thành Thái , Duy Tân nổi tiếng là những vị vua yêu nước của triều Nguyễn . Vua Hàm Nghi là người phát động phong trào Cần Vương , kêu gọi toàn dân đánh giặc . Và trên đường đi ẩn danh để duy trì phong trào , tương truyền ông đã mang theo một lượng kho báu cực lớn và cất giấu rải rác .

Vua Hàm Nghi
Vua Hàm Nghi

Dấu tích thư tịch…

Sau Hòa ước Giáp Tuất 1874, trước sự uy hiếp liên tục và ngày càng gia tăng của thực dân Pháp, Vua Tự Đức đã chuẩn y cho xây dựng một loạt các căn cứ Sơn phòng ở hầu khắp các tỉnh miền Trung. Mục đích ban đầu là để phòng ngừa sự quấy nhiễu của "người Man" (người dân tộc thiểu số) từ Tây Nguyên tràn xuống.

Nói cách khác, Sơn phòng không gì khác hơn là một loại thành lũy quy mô vừa phải, có quân đồn trú, làm nhiệm vụ như biên phòng ngày nay ở khu vực sơn cước phía tây đất nước.

Nhưng mục đích sâu xa, nhà Nguyễn muốn chuẩn bị trước một loạt căn cứ hậu lộ nhằm có nơi rút lui và tổ chức kháng chiến lâu dài, nếu Kinh thành Huế bị Pháp tấn công không thể giữ được.

Trong số đó, sách “Đại Nam thực lục chính biên” cho biết, theo chỉ dụ của Tự Đức, vùng Cùa, Cam Lộ, Quảng Trị được chọn làm đất lập Nha Kinh lý Sơn phòng Quảng Trị, tiền thân của thành Tân Sở sau này. Nhân lực xây dựng lấy từ số phạm nhân đã được phân loại.

Ấn tín Quốc Gia bằng vàng đúc năm Gia Long
Ấn tín Quốc Gia bằng vàng đúc năm Gia Long

Tháng 7/1883, Vua Tự Đức băng hà. Một tháng sau, Pháp đã đưa tàu chiến chiếm cứ cửa biển Thuận An, từ đó kéo quân xộc thẳng về Kinh đô và đồn trú ngay trên đất Huế. 

Tướng lĩnh Pháp ngang nhiên ra vào hoàng thành, ngang nhiên nhúng tay can thiệp vào việc triều chính của đất nước. Quốc gia bên bờ suy vong, triều đình Huế phân hóa nghiêm trọng.

Trong ba "cố mệnh đại thần" được di chiếu của Tự Đức giao trọng trách Phụ chánh đại thần thì Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường là chủ soái của phe chủ chiến, trong khi Trần Tiễn Thành cầm đầu phái chủ hòa.

Tôn Thất Thuyết và phe chủ chiến đã thẳng tay loại trừ bất kỳ ai, kể cả vua, nếu dám chống lại hoặc cản trở chủ trương chống Pháp. Trong vòng một năm, 3 tân vương Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc đã lần lượt bị truất ngôi và bị giết chết theo lệnh của Tường, Thuyết.

Việc chuẩn bị cho cuộc kháng chiến càng trở nên gấp rút. "Quốc triều chính biên toát yếu" chép, cuối năm 1883, dưới triều Vua Kiến Phúc, Cơ mật Viện nhà Nguyễn đã cho "dời Nha Sơn phòng Quảng Trị tới làng Bảng Sơn (nay là xã Cam Nghĩa), lỵ sở phủ Cam Lộ cũng dời về trong Sơn phòng".

Tổng chỉ huy xây dựng Sơn phòng Tân Sở được chính cố mệnh đại thần Nguyễn Văn Tường đảm trách, có sự phụ tá đôn đốc của một loạt trọng thần như Phò mã Đặng Huy Cát, Tham biện Tôn Thất Lệ, Phó sứ Sơn phòng Nguyễn Tuy...

Cả hai cuốn "Đại Nam thực lục chính biên" và "Quốc triều chính biên toát yếu" đều có những ghi nhận thống nhất: Đầu năm 1885, về cơ bản, các công trình phòng ngự quân sự đã xem như hoàn tất. Thành Tân Sở dài 548m, rộng 418m, tổng diện tích khoảng 23 hécta bao quanh bởi một vòng hào khá sâu, rộng 10m.

Triều đình cho dựng thành, trồng tre, đào hào làm chiến lũy, đồng thời cho chở lương thực từ các tỉnh Hà - Nam - Ninh của đồng bằng Bắc Bộ theo đường biển vào Cửa Việt rồi đưa lên Tân Sở.

Từ kinh đô, rất nhiều vàng bạc, khí giới cũng được đốc thúc đưa ra chôn giấu tại đây. Riêng vũ khí, số lượng chuyển đi rất lớn, mất ròng rã 3 tháng mới hoàn tất. 

Theo dự định của Tôn Thất Thuyết, 1 triệu lượng (khoảng 33 tấn) vàng ròng, bạc nén sẽ được chuyển từ kho Phủ Nội vụ trong Kinh thành Huế lên Tân Sở. Nhưng mới chuyển được 1/3, khoảng 11 tấn thì giao tranh với Pháp đã nổ ra tại kinh thành nên phải tạm ngừng.

Đêm mùng 5, rạng sáng ngày 6/7/1885, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đem quân tấn công trại lính Pháp ở đồn Mang Cá. Sau một ngày giao tranh, quân nhà Nguyễn thất bại. 

Ấn Hoàng đế chi tỷ bằng Bạch ngọc , năm Minh Mạng
Ấn Hoàng đế chi tỷ bằng Bạch ngọc , năm Minh Mạng

Ngày 9/7, Tôn Thất Thuyết đã hộ giá (thực chất là bắt ép) Vua Hàm Nghi - mới lên ngôi chưa đầy 1 năm - rời Hoàng thành vượt lên Tân Sở. Pháp một mặt cho quân bộ đuổi theo, một mặt cho thủy quân kéo tàu ra biển Nhật Lệ (Quảng Bình) chặn đường.

Tôn Thất thuyết tự lượng thành Tân Sở không đủ sức chống đỡ nên vội phò giá Hàm Nghi vượt lên phía thượng ngàn Đắkrông - Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, từ đó vượt sang Châu mường Mahasay của Lào.

Khi Phan Đình Phùng hưởng ứng chiếu Cần Vương khởi nghĩa, lập xong căn cứ Vụ Quang, Vua Hàm Nghi lại vượt biên giới về đóng tại căn cứ núi Ấu (Hương Khê, Hà Tĩnh).

Thực dân Pháp đã xua đám tay sai do Tổng đốc Hoàng Cao Khải chỉ huy đuổi riết. Đoàn tùy tùng lại tiếp tục hộ giá Vua Hàm Nghi vượt đèo Quy Hợp vào đất Tuyên Hóa, Quảng Bình. Có thời gian, đoàn ngự giá hạ trại tại chân núi Mã Cú, nay thuộc địa phận xã Hóa Sơn, Minh Hóa, Quảng Bình - chính là nơi sau này Nguyễn Hồng Công đào tìm kho báu.

Rời kinh thành, ngoài châu báu tùy thân, Vua Hàm Nghi còn mang theo kim ấn "Ngự tiền chi bảo" - bảo vật truyền ngôi của nhà Nguyễn. Trước lúc rời Tân Sở, ngày 13/7/1885, Vua Hàm Nghi đã tự tay đóng ấn "Ngự tiền chi bảo" lên những tờ Hịch Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và dân chúng mọi miền đứng lên chống Pháp.

Thời gian Vua Hàm Nghi và đoàn tùy tùng lưu lại Tân Sở rất ngắn, chỉ chừng 4 hoặc 5 ngày. Ngay sau đó, Pháp đã chiếm Sơn phòng Tân Sở và san phẳng nơi này.

Với thời gian gấp gáp như vậy, lại liên tục trong tình trạng bị truy đuổi ráo riết một thời gian dài, gần như chắc chắn Vua Hàm Nghi và đoàn hộ giá không thể mang theo hết số bạc vàng châu báu, tiền bạc đã tập kết về Tân Sở từ đầu năm 1885. 

Ngoài một phần bị quân Pháp cướp lại, số mang theo được chắc chắn sẽ phải chia nhỏ, chôn giấu lại từng phần ở nhiều nơi dọc đường bôn tẩu.

Ngày 26/9/1888, tại khe Tá Bào, Tuyên Hóa, Quảng Bình, tên phản bội Trương Quang Ngọc đã dẫn binh giết sạch đoàn hộ giá, bắt Vua Hàm Nghi dâng cho giặc.

Trương Quang Ngọc, rồi thực dân Pháp đã lục xét đào xới khắp bốn chung quanh nơi vua hạ trại hòng tìm cướp báu vật mang theo, nhưng chỉ uổng công. 

Không ngọc tỉ, kim ấn, không bạc nén, vàng thoi, trong người đức vua chỉ còn lại một ít bạc lẻ và vài ba tấm bản đồ đánh dấu một số kho báu được chôn lại ở nhiều nơi.

Kẻ ngoài cuộc có cầm bản đồ trên tay cũng không tài nào xác định nổi vị trí của những tấm bản đồ vẽ sơ sài ấy... Trong khi đó, Vua Hàm Nghi thì trước sau không chịu nói thêm lấy nửa câu.