Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn hạt nhân. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn hạt nhân. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

KHO VÀNG YAMASHITA : SỰ ĐẢM BẢO CHÍNH TRỊ CỦA MARCOS

Gia đình Tổng thống F.Marcos (Philipines) thời bấy giờ nổi tiếng với thói khoe khoang của cải . Tuy nhiên , tham vọng chính trị của ông còn lớn hơn tất cả .

F.Marcos có thói khoe khoang của cải
F.Marcos có thói khoe khoang của cải

Andrew Carnegie có lần nói: “Người đàn ông chết giàu là người đàn ông ngu”. Marcos không có thời gian để làm từ thiện bởi Nhà Trắng không ngừng tạo áp lực buộc ông phải dùng vàng “đen” của mình để cung cấp cho các mục tiêu chính trị.

Một trong các mục tiêu chính trị ấy có tên gọi là China Mandate (Sự ủy quyền Trung Quốc).

Gia đình Marcos cho biết: “Bill Casey nói với Ferdinand Marcos rằng Nhà Trắng sẽ giữ chiếc ghế tổng thống cho ông ta mãi mãi nếu ông ta đồng ý gửi số vàng “đen” của mình vào nhà băng dưới sự chỉ định của CIA”.

Trong China Mandate, theo tác giả Sterling và Peggy Seagrave viết trong Gold Warriors: Năm 1972, gia đình Marcos, Tổng thống Mỹ Nixon, Ngoại trưởng Kissinger đã thỏa thuận mật với Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai để giữ Trung Quốc ra khỏi cuộc đụng độ với Mỹ về vấn đề Đài Loan. Để đổi lại, Trung Quốc sẽ được quyền sử dụng một lượng vàng lớn từ Marcos. 

Sterling và Peggy Seagrave cũng đưa ra những bằng chứng từ tài liệu giao dịch của phía ngân hàng cho thấy trong khoảng thời gian này, một lượng vàng rất lớn đã được chuyển đến các ngân hàng của Trung Quốc đại lục, trong đó có các tài khoản mang tên của Santa Romana, Ferdinand và Imelda Marcos và nhiều thành viên khác trong gia đình giàu có này.

Vì sao những nhân vật vốn luôn to miệng hô hào chống cộng, nay bỗng dưng chuyển một lượng lớn vàng đến các ngân hàng của một quốc gia cộng sản như Trung Quốc? Không có một lý do nào thuyết phục để có thể tin được, nhất là vào cao trào của Chiến tranh lạnh. Và vì thế, chỉ có thể giải thích được về một China Mandate mà chính quyền Tổng thống Nixon đã thỏa thuận với Bắc Kinh.

Chu Ân Lai đổi chiến tranh lấy Vàng
Chu Ân Lai đổi chiến tranh lấy Vàng

Một tài liệu nữa cũng nói đến việc “đổi chác” giữa Tổng thống Mỹ Richard Nixon và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông về vấn đề này. Trong The Secret Gold Treaty (Thỏa ước mật về vàng), tác giả David Guyatt dẫn chứng: “Một giấy chứng nhận do Ngân hàng Bank of England phát hành ngày 15.12.1972 mang tên Mao Trạch Đông là chủ tài khoản với số tiền lên đến 16,62 tỉ USD”. Một cá nhân trong đường dây chuyển vàng của Marcos cho rằng Nixon đã trao cho Trung Quốc 200.000 tấn vàng để đổi lại một thỏa thuận, rằng Trung Quốc không được có bất kỳ hành vi bành trướng lãnh thổ nào trong vòng 50 năm”.

Và kèm theo nhận định: “Đã từng chứng kiến cảnh Trung Quốc xua quân tràn qua lãnh thổ Triều Tiên trong chiến tranh Triều Tiên 1950 - 1953, phía Mỹ sợ rằng rất có thể Trung Quốc sẽ tấn công Đài Loan và Philippines, từ đó dẫn đến cuộc chiến tranh hạt nhân”.

Năm 1971 - 1972, nền kinh tế Trung Quốc lâm vào cảnh cực kỳ bi đát. Ngân khố của Bắc Kinh không có lấy một đồng dự trữ ngoại tệ. Chưa hết, cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế giới càng khiến kinh tế Trung Quốc lao đao. Ở các vùng quê, dân chúng bắt đầu chết đói.

Giới phân tích của CIA và Lầu Năm Góc đánh giá tình hình và nhận định chắc chắn Trung Quốc sẽ đánh Đài Loan. Cuộc đụng độ này nếu xảy ra chắc chắn sẽ dẫn đến chiến tranh hạt nhân. Một cách có thể tháo được ngòi nổ cuộc chiến này, như lời đề nghị của một nhà phân tích CIA, là phải giúp Bắc Kinh ổn định được nền kinh tế. Nguồn tài chính lấy ở đâu ra? Không thể dùng ngân sách, Nhà Trắng quyết định dùng kho vàng “đen” của Marcos để hạ nhiệt cuộc chiến. Nếu Mỹ giúp Trung Quốc giải quyết được bài toán kinh tế thì các bên sẽ thiết lập được một giai đoạn hòa bình và bản thân Philippines cũng có lợi.

Để thực hiện China Mandate, Nixon và Kissinger đã bí mật đề nghị Mao Trạch Đông sẽ có một số lượng vàng trị giá 68 tỉ USD (con số Nhà Trắng ước lượng Marcos có lúc bấy giờ) lần lượt chuyển vào các ngân hàng Trung Quốc trong nhiều năm. Có tài chính, hệ thống ngân hàng Trung Quốc trở nên mạnh mẽ, nền kinh tế dần ổn định, và vấn đề đánh Đài Loan không còn là chủ đề nóng. Mỹ đã tránh được một cuộc xung đột thấy rõ với Trung Quốc. Và Marcos được Nhà Trắng ve vuốt và giữ yên ghế tổng thống thêm một thời gian dài.

Tổng thống Nixon
Tổng thống Nixon

Năm 1974, Imelda và con trai Bong-Bong đã có chuyến thăm cấp nhà nước đến Bắc Kinh. Báo chí loan tải tấm ảnh Mao Trạch Đông vui vẻ đứng giữa 2 mẹ con Imelda (ảnh) - một tư thế chụp ảnh hiếm thấy ở Mao Trạch Đông. Năm sau, đến lượt Marcos viếng thăm Trung Quốc, và sau đó, em vợ ông là Kokoy Romualdez trở thành đại sứ Philippines tại Bắc Kinh.

Phía gia đình Marcos khẳng định rằng, China Mandate chính là cơ sở thiết lập nên chuyến thăm lịch sử của Nixon tới Bắc Kinh và thiết lập quan hệ ngoại giao với CHND Trung Hoa.

Các tài liệu cho thấy bắt đầu từ năm 1972 và kéo dài những năm sau đó, vàng của Marcos bắt đầu chảy vào các ngân hàng Trung Quốc, trong đó có Po Sang Bank và Bank of China ở Hồng Kông và những ngân hàng Trung Quốc khác ở Hạ Môn. Những tài liệu giao dịch cho thấy nhiều tài khoản lớn ở các ngân hàng này mang tên Romana Santa, Fernando Marcos, Imelda Marcos và các tên khác. Có tài liệu cho thấy một lá thư của một tay môi giới vàng đòi được chi trả hoa hồng sau khi hoàn tất việc chuyển vàng. Gia đình Marcos thường xuyên đến Xiamen, trong đó có việc đến dự lễ khánh thành tòa nhà mới cho ngân hàng của Trung Quốc nơi họ đang có tài khoản.

Một bằng chứng nữa vào năm 2000, khi Imelda bị chính quyền Hồng Kông cáo buộc đã thuê một phụ nữ Trung Quốc truy cập vào các tài khoản vàng của mình bằng cách hối lộ quan chức ngân hàng. Tháng 12.1999, các công tố viên Hồng Kông cho biết, Imelda đã đồng ý trả 35% cho bất kỳ ai giúp bà rút được 2,5 tỉ USD từ các tài khoản ở Bank of China, HSBC và các ngân hàng khác của Trung Quốc tại Hạ Môn.


Theo TNO

Xem tiếp : Kho vàng Yamashita



NÀNG TIÊN CÁ : NHỮNG CÂU CHUYỆN CÓ THẬT

Không chỉ xuất hiện trong chuyện cổ Andersen , những mẩu chuyện thật được kể lại từ những nhân chứng sống về người Cá , từ lâu đã khiến cộng đồng và các nhà Khoa học đau đầu tìm lời giải .

Người Cá liệu có thật
Người Cá liệu có thật

Một nàng tiên cá đã thực sự xuất hiện tại Israel năm 2009. Tin tức này nhanh chóng trở thành hiện tượng thu hút mạnh mẽ dư luận khắp Israel, tạo nên “cơn sốt nàng tiên cá” tại nước này vào thời điểm đó.

Nàng tiên cá dường như đã thực sự xuất hiện tại một bãi biển nhỏ ở Kiryat Yam. Người dân địa phương và khách du lịch lúc đó đã rất xúc động khi chứng kiến người cá này xuất hiện và biến mất nơi đại dương.

Người phụ nữ với chiếc đuôi cá rất đẹp, ban đầu bị nhầm là du khách đang tắm nắng. Nhưng khi nhìn gần hơn, người ta phát hiện chiếc đuôi này. Cô gái sau đó lặn mất tăm cho đến khi mặt trời khuất dạng.

Người dân địa phương biết rằng họ đã được thấy nàng tiên cá thực sự, khởi đầu “cơn sốt” tại Israel. Sau lần đó, nhiều người khác cũng tuyên bố nhìn thấy người cá này. Cô chỉ xuất hiện vào lúc hoàng hôn và dường như đang chơi trò trốn tìm với những người tò mò, bởi cô sẽ ngay lập tức biến mất trước bất kì ai đến gần.

Thị trấn Kiryat Yam đã thu hút lượng lớn khách du lịch sau “cơn sốt nàng tiên cá” này, họ thậm chí còn trao giải thưởng 1 triệu USD cho người bắt được nàng tiên cá giống như trên phim.

Người Cá Israel rất đẹp
Người Cá Israel rất đẹp

Những trường hợp xuất hiện nàng tiên cá khác

Một người kể lại việc cha cô đã thật sự nghe thấy tiếng hát của nàng tiên cá từ trong sâu thẳm đại dương. Khi đó, ông và các thủy thủ đi cùng trên một con tàu và nghe được tiếng hát quyến rũ phát ra trên những con sóng. Một số người thậm chí nhảy ra khỏi tàu trong trạng thái bị thôi miên.

Ngoài khơi bờ biển Nam Cực từng có người nhìn thấy người cá, hay theo người Nhật gọi là “Ningen”. Những sinh vật biển này có vẻ rất giống con người, nhưng nước da trắng bệch.

Trở lại với thời Trung cổ, vào thế kỷ XII người ta đánh bắt được một người cá ngoài khơi gần lâu đài Orford, Suffolk, Anh. Chủ nhân của lâu đài bắt giữ người cá này trong khoảng sáu tháng, nhưng sau đó người cá trốn thoát được và trở về đại dương. Theo câu chuyện này, người cá rất lặng lẽ, không bao giờ nói một lời nào với những người bắt cóc và chỉ ăn cá.

Ở Dyfed, mười hai người đã nhìn thấy nàng tiên cá xinh đẹp bơi lội dưới biển. Cô có cơ thể như một phụ nữ xinh đẹp nhưng nửa phía dưới lại là chiếc đuôi màu đen đang vung vẩy. Sự kiện này xảy ra vào tháng 7/1826 và vẫn được nhắc đến trong nhiều năm sau đó.

Vào năm 2002, xảy ra vụ việc liên quan đến nàng tiên cá ở Zimbabwe. Một công nhân đang làm việc tại hồ chứa bị nàng tiên cá kéo đi và không bao giờ quay trở lại. Dường như tất cả các công nhân đều khiếp sợ và không dám trở lại làm việc. Vì vậy, để giải quyết vấn đề này người ta đã nấu bia truyền thống để dâng cho các nàng tiên cá và xoa dịu họ.

Công nhân bị nàng tiên cá kéo đi
Công nhân bị nàng tiên cá kéo đi

Tại British Columbia, Canada, một vụ chạm trán nàng tiên cá đã xảy ra vào năm 1967, khi có người nhìn thấy một người phụ nữ với chiếc đuôi cá heo. Cô có mái tóc vàng lộng lẫy, bị phát hiện khi đang ăn cá hồi. Một số khách du lịch thực sự nhìn thấy nàng tiên cá này từ vịnh Active Pass. Người dân thị trấn thả các loại hạt cho nàng tiên cá, nhưng từ đó về sau người ta không còn nhìn thấy cô nữa.

Hàng trăm năm qua, người Anh luôn bắt gặp nàng tiên cá. Một câu chuyện đặc biệt hấp dẫn từng được đăng trên báo Anh năm 1810 kể về hai em bé người cá được tìm thấy trên Isle of Man. Khi đó, hai ngư dân trong câu chuyện này nghĩ rằng họ nghe thấy âm thanh giống như tiếng chim hoặc loài động vật nào đó kêu cứu. Họ đi về phía phát ra tiếng động và tìm thấy hai em bé người cá, chỉ có một đứa trẻ còn sống nhưng bị thương. Họ đưa đứa trẻ về nhà chăm sóc. Em bé người cá có chiều dài khoảng 60 cm, mang hình hài một đứa trẻ với chiếc đuôi cá và mái tóc giống rong biển…thậm chí có màu xanh lục. Em ăn những con trai mà ngư dân cho, đôi khi uống nước hoặc sữa.

Em bé Người Cá
Em bé Người Cá

Những truyền thuyết và câu chuyện về người cá

Dĩ nhiên, niềm tin vào nàng tiên cá đã tồn tại trước các bộ phim trình chiếu về họ. Và niềm tin này đã tồn tại từ hàng ngàn năm trước, không  hẳn bắt nguồn từ Israel.

Tại Ireland và một số nơi ở Scotland, nàng tiên cá được gọi là merrow. Những câu chuyện về sinh vật khó nắm bắt này xuất hiện trở lại vào thế kỷ thứ 9. Câu chuyện được kể nhằm cảnh báo người dân địa phương về sự nguy hiểm của merrow (hoặc merfolk).

Vào các thế kỷ trước, nhiều thủy thủ tin rằng sự xuất hiện nàng tiên cá báo hiệu điều khủng khiếp sắp xảy ra, có thể là một cơn bão dữ dội hay vụ đắm tàu hoặc cả hai. Đôi khi merfolk bị liên tưởng như một nhân vật phản diện, có thể chính là người gieo bão làm đắm các con tàu, hay giống như ác quỷ ăn các thủy thủ bị chết đuối. Huyền thoại nàng tiên cá hầu như khác xa với câu chuyện “Little Mermaid” mà trẻ em biết đến trong thời hiện đại. Thường thì trẻ em ở Anh, Ireland và Scotland được cảnh báo không nên đến quá gần hồ, sông ngòi, thậm chí cả giếng nước có liên quan đến các merrow.

Sự xuất hiện của Nàng tiên cá đem đến nhiều điều khủng khiếp
Sự xuất hiện của Nàng tiên cá đem đến nhiều điều khủng khiếp

Những người nhìn thấy người cá thật sự ở Ireland và Scotland nói rằng các nữ  merrow thường rất đẹp còn nam merrow thì ngược lại. Đó là lý do nhiều người tin rằng nữ merrow sẽ rời khỏi ngôi nhà đại dương để kết hôn và sinh sống với con người. Các nàng tiên cá có mái tóc dài màu xanh lá cây, bàn tay có màng trắng. Người ta thường nhìn thấy hình ảnh họ ngồi trên tảng đá hay bờ biển và dùng tay chải vuốt mái tóc.

Siren là nàng tiên cá của Hy Lạp có tài năng lạ thường và đầy mê hoặc. Họ sống trên một hòn đảo ở biển Địa Trung Hải, họ thu hút các thủy thủ bằng tiếng hát mê hoặc của mình. Tiếng ca tuyệt vời và quyến rũ khiến các thủy thủ mất kiểm soát và con tàu đâm vào các bãi đá. Trong một số câu chuyện, không phải tất cả Siren đều là nàng tiên cá, họ có thể là một phụ nữ với đôi cánh chim. Tuy nhiên, hầu hết những câu chuyện và hình ảnh ngày nay thể hiện Siren Hy Lạp dưới dạng nàng tiên cá.

Selkie trong truyền thuyết Orkney được mô tả tương tự như một dạng của nàng tiên cá. Khi ở trong nước, họ sở hữu cơ thể người cá nhưng khi lên bờ họ có thể cởi lớp da để trở thành con người. Nhiều truyền thuyết kể về nữ Selkie, họ kết hôn với con người và chỉ rời đi sau khi nghe được tiếng gọi từ ngôi nhà trong đại dương. Truyền thuyết kể rằng nếu một người đàn ông có thể giấu hoặc phá hủy lớp da mà Selkie cởi ra thì cô ấy sẽ là vợ của anh ta. Nhưng nếu cô tìm thấy lớp da đó thì có thể cô sẽ trở về biển cả mãi mãi. Nếu một người phụ nữ muốn cưới namSelkie thì cô phải khóc cho bảy giọt nước mắt rơi vào biển khơi và anh ta sẽ đến với cô.

Những truyền thuyết về người cá xuất hiện trong nhiều thế kỷ và không thể dự đoán được liệu họ có biến mất trong thế kỷ tới hay không. Liệu người cá có thực sự tồn tại hay đã từng tồn tại ở một thời điểm nào đó trong lịch sử? Thông thường những truyền thuyết bắt nguồn từ một phần của sự thật, hoặc cũng có thể hoàn toàn là sự thật.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg


Theo Tinhhoa





HUYỀN THOẠI VỀ CHÉN THÁNH

Luôn được gắn liền với nhiều giai thoại trên thế giới , từ lâu Chén Thánh được xem là báu vật , tiếp thêm nhiều sức mạnh cho người sở hữu .


Một trong những chiếc "Chén Thánh"
Một trong những chiếc "Chén Thánh" ??


Chén Thánh (Holy Grail) là một trong những báu vật trong truyền thuyết đến nay vẫn có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với nhiều người trên thế giới. Hàng triệu du khách sẵn sàng đổ xô tới một địa điểm khi nơi đó tuyên bố rằng, họ đang cất giữ Chén Thánh để chiêm ngưỡng.
Có ma lực là vậy, nhưng sự thật về chiếc chén quý giá này luôn bị bao phủ bởi một màn sương huyền thoại và không ai có thể biết được chính xác, nó bắt nguồn từ đâu. Từ "grail" trong Holy Grail được dịch nghĩa từ tiếng Latin cổ - cratella, nghĩa là chiếc bình. Tương truyền rằng Chén Thánh có ma thuật, là thứ mà các hiệp sĩ Bàn Tròn lừng danh từng tranh giành. 
Tuy vậy, Chén Thánh chỉ thực sự nổi tiếng và được biết đến khi nó xuất hiện trong Bữa Tiệc Ly - nơi chúa Jesus sử dụng để uống rượu. Hàng nghìn năm qua, con người vẫn luôn tìm kiếm chiếc cốc quyền lực này, vì họ tin rằng nó chứa nhiều sức mạnh, có thể giúp trường sinh bất lão hoặc sở hữu sức mạnh bá vương. Nhiều người cũng tin rằng chủ sở hữu Chén Thánh là người có tài năng kiệt xuất. Trong bữa tiệc ly, chúa Jesus cũng dùng quyền phép của mình để biến rượu thành Máu Thánh. 
Truyền thuyết cũng kể rằng, Joseph thành Arimathea đã dùng Chén Thánh hứng Máu Thánh khi tẩm liệm chúa Jesus rồi lén đem về Vương quốc Anh, nơi ông ta cất giữ vật thiêng này qua nhiều thế hệ. Cũng có truyện kể rằng, khi Đức Chúa mất, Joseph cũng bị giam cầm trong một lăng mộ và bỏ đói cho đến chết. Nhưng người đàn ông vẫn sống ung dung qua nhiều ngày, do mỗi ngày Chén Thánh đều cung cấp thức ăn và nước sạch cho người sở hữu nó. 
Việc tìm kiếm Chén Thánh cũng trở thành một giai thoại độc đáo, đưa tên tuổi vua Arthur của Anh lên tầm cao mới. Chiếc chén này cũng được nhiều danh họa nổi tiếng vẽ lại. Một trong số đó là Jacopo Bassano và Dante Gabriel Rosetti. Chủ nhân của Mona Lisa, Leonardo Da Vinci cũng có bức tranh nổi tiếng là Buổi Tiệc Ly. Tương truyền rằng khi danh họa vẽ xong bức tranh này, nhiều người đã khen ông vẽ Chén Thánh đẹp. Sau đó, Leonardo Da Vinci đã cạo bỏ hình Chén Thánh để mọi người chú ý vào ý nghĩa của bức tranh.
Cũng vì tính huyền bí và sự quá nổi tiếng của mình mà ngày nay trên thế giới, không ít nơi trên thế giới tự nhận họ đang nắm trong tay Chén Thánh huyền thoại. Một trong số đó là nhà thờ San Isidoro ở thành phố Leon, Tây Ban Nha. Khi vừa được các nhà nghiên cứu cho rằng đây là cổ vật ngàn năm xuất hiện trong bữa ăn cuối cùng của Đức Chúa, hàng nghìn du khách thập phương đã đổ về nơi đây để chiêm ngưỡng. Trước số lượng người đến quá đông, nhà thờ đã phải tạm cất vật quý đi cũng như dự kiến xây một phòng trưng bày lớn để phục vụ du khách.
Một nơi khác cũng tự nhận là nơi đang cất giữ báu vật này là làng Weston-under Penyard, ngoại ô Herefordshire, Anh. Nó được để trong nhà bà Fiona Mirylees và bị đánh cắp hồi tháng 7/2014. Nhưng khác với chiếc chén được làm bằng vàng và chạm ngọc tinh xảo như ở San Isidoro, Chén Thánh ở Anh chỉ là một chiếc cốc gỗ có niên đại từ thời trung cổ, và chỉ là những mảnh chén còn sót lại chứ không phải là một hiện vật hoàn chỉnh.
Bên cạnh đó, nhiều du khách yêu thích huyền thoại về Chén Thánh vẫn thường tìm đến bản khắc chữ trên công trình Shugborough, hạt Staffordshire, Anh. Người ta cho rằng bản khắc chữ trên công trình này gồm các chữ cái bí ẩn, được các hiệp sĩ dòng đền bí mật khắc như một cách gợi ý về nơi cất Chén Thánh. Hai trong số nhiều người nổi tiếng đã cố gắng giải mã những ký tự này là Charles Dickens và Charles Darwin, nhưng đều thất bại.
Rõ ràng , việc tìm kiếm Chén Thánh là một cậu chuyện dài . Tất nhiên , những huyền thoại gắn liền với chiếc Chén báu vật này cũng ngày càng nhiều hơn .

Theo VNE