Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn chiến tranh. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn chiến tranh. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

KHO VÀNG YAMASHITA : SỰ ĐẢM BẢO CHÍNH TRỊ CỦA MARCOS

Gia đình Tổng thống F.Marcos (Philipines) thời bấy giờ nổi tiếng với thói khoe khoang của cải . Tuy nhiên , tham vọng chính trị của ông còn lớn hơn tất cả .

F.Marcos có thói khoe khoang của cải
F.Marcos có thói khoe khoang của cải

Andrew Carnegie có lần nói: “Người đàn ông chết giàu là người đàn ông ngu”. Marcos không có thời gian để làm từ thiện bởi Nhà Trắng không ngừng tạo áp lực buộc ông phải dùng vàng “đen” của mình để cung cấp cho các mục tiêu chính trị.

Một trong các mục tiêu chính trị ấy có tên gọi là China Mandate (Sự ủy quyền Trung Quốc).

Gia đình Marcos cho biết: “Bill Casey nói với Ferdinand Marcos rằng Nhà Trắng sẽ giữ chiếc ghế tổng thống cho ông ta mãi mãi nếu ông ta đồng ý gửi số vàng “đen” của mình vào nhà băng dưới sự chỉ định của CIA”.

Trong China Mandate, theo tác giả Sterling và Peggy Seagrave viết trong Gold Warriors: Năm 1972, gia đình Marcos, Tổng thống Mỹ Nixon, Ngoại trưởng Kissinger đã thỏa thuận mật với Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai để giữ Trung Quốc ra khỏi cuộc đụng độ với Mỹ về vấn đề Đài Loan. Để đổi lại, Trung Quốc sẽ được quyền sử dụng một lượng vàng lớn từ Marcos. 

Sterling và Peggy Seagrave cũng đưa ra những bằng chứng từ tài liệu giao dịch của phía ngân hàng cho thấy trong khoảng thời gian này, một lượng vàng rất lớn đã được chuyển đến các ngân hàng của Trung Quốc đại lục, trong đó có các tài khoản mang tên của Santa Romana, Ferdinand và Imelda Marcos và nhiều thành viên khác trong gia đình giàu có này.

Vì sao những nhân vật vốn luôn to miệng hô hào chống cộng, nay bỗng dưng chuyển một lượng lớn vàng đến các ngân hàng của một quốc gia cộng sản như Trung Quốc? Không có một lý do nào thuyết phục để có thể tin được, nhất là vào cao trào của Chiến tranh lạnh. Và vì thế, chỉ có thể giải thích được về một China Mandate mà chính quyền Tổng thống Nixon đã thỏa thuận với Bắc Kinh.

Chu Ân Lai đổi chiến tranh lấy Vàng
Chu Ân Lai đổi chiến tranh lấy Vàng

Một tài liệu nữa cũng nói đến việc “đổi chác” giữa Tổng thống Mỹ Richard Nixon và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông về vấn đề này. Trong The Secret Gold Treaty (Thỏa ước mật về vàng), tác giả David Guyatt dẫn chứng: “Một giấy chứng nhận do Ngân hàng Bank of England phát hành ngày 15.12.1972 mang tên Mao Trạch Đông là chủ tài khoản với số tiền lên đến 16,62 tỉ USD”. Một cá nhân trong đường dây chuyển vàng của Marcos cho rằng Nixon đã trao cho Trung Quốc 200.000 tấn vàng để đổi lại một thỏa thuận, rằng Trung Quốc không được có bất kỳ hành vi bành trướng lãnh thổ nào trong vòng 50 năm”.

Và kèm theo nhận định: “Đã từng chứng kiến cảnh Trung Quốc xua quân tràn qua lãnh thổ Triều Tiên trong chiến tranh Triều Tiên 1950 - 1953, phía Mỹ sợ rằng rất có thể Trung Quốc sẽ tấn công Đài Loan và Philippines, từ đó dẫn đến cuộc chiến tranh hạt nhân”.

Năm 1971 - 1972, nền kinh tế Trung Quốc lâm vào cảnh cực kỳ bi đát. Ngân khố của Bắc Kinh không có lấy một đồng dự trữ ngoại tệ. Chưa hết, cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế giới càng khiến kinh tế Trung Quốc lao đao. Ở các vùng quê, dân chúng bắt đầu chết đói.

Giới phân tích của CIA và Lầu Năm Góc đánh giá tình hình và nhận định chắc chắn Trung Quốc sẽ đánh Đài Loan. Cuộc đụng độ này nếu xảy ra chắc chắn sẽ dẫn đến chiến tranh hạt nhân. Một cách có thể tháo được ngòi nổ cuộc chiến này, như lời đề nghị của một nhà phân tích CIA, là phải giúp Bắc Kinh ổn định được nền kinh tế. Nguồn tài chính lấy ở đâu ra? Không thể dùng ngân sách, Nhà Trắng quyết định dùng kho vàng “đen” của Marcos để hạ nhiệt cuộc chiến. Nếu Mỹ giúp Trung Quốc giải quyết được bài toán kinh tế thì các bên sẽ thiết lập được một giai đoạn hòa bình và bản thân Philippines cũng có lợi.

Để thực hiện China Mandate, Nixon và Kissinger đã bí mật đề nghị Mao Trạch Đông sẽ có một số lượng vàng trị giá 68 tỉ USD (con số Nhà Trắng ước lượng Marcos có lúc bấy giờ) lần lượt chuyển vào các ngân hàng Trung Quốc trong nhiều năm. Có tài chính, hệ thống ngân hàng Trung Quốc trở nên mạnh mẽ, nền kinh tế dần ổn định, và vấn đề đánh Đài Loan không còn là chủ đề nóng. Mỹ đã tránh được một cuộc xung đột thấy rõ với Trung Quốc. Và Marcos được Nhà Trắng ve vuốt và giữ yên ghế tổng thống thêm một thời gian dài.

Tổng thống Nixon
Tổng thống Nixon

Năm 1974, Imelda và con trai Bong-Bong đã có chuyến thăm cấp nhà nước đến Bắc Kinh. Báo chí loan tải tấm ảnh Mao Trạch Đông vui vẻ đứng giữa 2 mẹ con Imelda (ảnh) - một tư thế chụp ảnh hiếm thấy ở Mao Trạch Đông. Năm sau, đến lượt Marcos viếng thăm Trung Quốc, và sau đó, em vợ ông là Kokoy Romualdez trở thành đại sứ Philippines tại Bắc Kinh.

Phía gia đình Marcos khẳng định rằng, China Mandate chính là cơ sở thiết lập nên chuyến thăm lịch sử của Nixon tới Bắc Kinh và thiết lập quan hệ ngoại giao với CHND Trung Hoa.

Các tài liệu cho thấy bắt đầu từ năm 1972 và kéo dài những năm sau đó, vàng của Marcos bắt đầu chảy vào các ngân hàng Trung Quốc, trong đó có Po Sang Bank và Bank of China ở Hồng Kông và những ngân hàng Trung Quốc khác ở Hạ Môn. Những tài liệu giao dịch cho thấy nhiều tài khoản lớn ở các ngân hàng này mang tên Romana Santa, Fernando Marcos, Imelda Marcos và các tên khác. Có tài liệu cho thấy một lá thư của một tay môi giới vàng đòi được chi trả hoa hồng sau khi hoàn tất việc chuyển vàng. Gia đình Marcos thường xuyên đến Xiamen, trong đó có việc đến dự lễ khánh thành tòa nhà mới cho ngân hàng của Trung Quốc nơi họ đang có tài khoản.

Một bằng chứng nữa vào năm 2000, khi Imelda bị chính quyền Hồng Kông cáo buộc đã thuê một phụ nữ Trung Quốc truy cập vào các tài khoản vàng của mình bằng cách hối lộ quan chức ngân hàng. Tháng 12.1999, các công tố viên Hồng Kông cho biết, Imelda đã đồng ý trả 35% cho bất kỳ ai giúp bà rút được 2,5 tỉ USD từ các tài khoản ở Bank of China, HSBC và các ngân hàng khác của Trung Quốc tại Hạ Môn.


Theo TNO

Xem tiếp : Kho vàng Yamashita



KHO VÀNG YAMASHITA

Bằng cách “hỗ trợ” đầu tư hạ tầng , đầu tư xây dựng dự án tại những nơi “nghi vấn” . Nhật Bản kì vọng thu hồi tất cả kho Vàng Yamashita được chôn dấu tại Philipines . Tuy nhiên , mọi chuyện không đơn giản với vị Tổng thống nhanh nhạy F.Marcos .


kho vang yamashita
Kho vàng Yamashita


Năm 1971, phu nhân ông Marcos, bà Imelda, bị bắt gặp xài hơn 3 triệu USD chỉ trong 1 ngày mua sắm ở New York. Hỏi vì sao giàu trong khi lương tổng thống thì bèo bọt, Marcos cười sảng khoái và bảo “nhờ tìm ra kho vàng của Yamashita”.

Cuối thập niên 1950, nhiều toán người Nhật âm thầm trở lại Philippines tìm cách hợp tác làm ăn, song thực chất là săn lùng số kho báu giấu lại ở Đệ nhị thế chiến.

Chính quyền Tokyo cũng đề nghị sẵn sàng giúp Philippines “hàn gắn vết thương chiến tranh” bằng những dự án hạ tầng miễn phí, bao gồm đầu tư cho hệ thống thủy lợi, đường sá, làm đường hầm xuyên núi. Các công ty cứu hộ Nhật xin được nạo vét, khơi thông dòng chảy cho vịnh Manila bằng cách trục vớt tàu đắm ở đây. Bằng cách này, họ đã vớt được nhiều xác tàu bên trong chứa của cải quân Nhật chuyên chở trước khi chìm xuống biển.

Nhiều công ty xây dựng của Nhật cũng đổ xô sang Philippines, làm những dự án ở các vị trí “nghi có vàng” trên khắp đất nước Philippines. Họ thuê công nhân Philippines làm việc trên những dây chuyền sản xuất ti vi, cassette, máy tính, tủ lạnh hay máy lạnh... ra sản phẩm, tất cả được đóng thùng chuyển sang Nhật. Trong đó, có nhiều thùng hàng được ghi nhận là “rất nặng”. CIA có những thông tin cho biết người Nhật đã tìm lại được không ít vàng cất giấu thời Đệ nhị thế chiến và chuyển về chính quốc bằng cách này, song CIA đã không can thiệp.

Marcos biết được thông tin về kho báu hoàn toàn tình cờ. Binh sĩ của ông phát hiện 2 người đàn ông Nhật, vốn là cựu binh quân đội Nhật hoàng, đang hì hục đào một cái hố tại Ilocos Norte, quê hương của Marcos ở tây bắc Luzon. Họ cố tìm lại những thỏi vàng to bằng cái bánh quy giấu riêng từ thời chiến. Marcos ra lệnh tịch thu số vàng này.

Khi ấy, Marcos là một chính trị gia trẻ, nhạy bén. Từ những thỏi vàng thu được của 2 cựu binh Nhật, ông cũng nghe loáng thoáng về câu chuyện Santy khai quật thành công các kho vàng trước đó. Marcos tìm cách tiếp cận, tạo quan hệ, dần dần ông bắt đầu thay Santy điều hành một số hoạt động, trong đó có chiến dịch The Umbrella.

Khi đắc cử tổng thống năm 1965, Marcos trực tiếp tiến hành tìm kiếm kho báu. Đầu tiên, ông hợp tác với trùm thế giới ngầm Sasakawa Ryoichi để cùng tìm kiếm và chia phần. Sasakawa là bạn nối khố của Kodama - trùm xã hội đen Nhật Bản được Nhật hoàng huy động trong chiến dịch Hoa Huệ Vàng, cướp bóc tài sản trong thế giới ngầm của 12 quốc gia thời chiến tranh, đặc biệt là Trung Quốc. Do đó, Sasakawa biết chỗ giấu vàng, còn Marcos trao cho Sasakawa quyền tìm kiếm. Nhưng kho vàng thực sự khiến Marcos nổi tiếng cả thế giới không đến từ sự hợp tác này, mà từ một anh thợ khóa Roger Roxas.

Tháng 1.1971, một thợ khóa người Philippines kiêm nhà săn kho báu nghiệp dư tên Roger Roxas bò vào một đường hầm do quân Nhật đào thời chiến và tìm thấy một bức tượng Phật ngồi bằng vàng cao gần 10 feet (chưa đến 90 cm), nặng khoảng 1 tấn và được đúc theo phong cách Miến Điện.
Thường ngày, Roxas kiếm sống bằng nghề mua bán lặt vặt ở khu resort Baguio, kiêm luôn chức Chủ tịch Hiệp hội Săn lùng kho báu Philippines. Roxas tiếp xúc rất nhiều du khách Nhật. Một lần, vị khách Okubo Eusebio nói với Roxas rằng khi còn trẻ, ông ta phiên dịch cho tướng Yamashita và biết Yamashita đã chở một lượng vàng bạc lớn từ Manila đến Baguio để mua lương thực cho binh sĩ trong năm cuối chiến tranh. Okubo nói rằng số vàng đó được cất trong những thùng gỗ, giấu dưới đường hầm gần Bệnh viện đa khoa Baguio. Okubo cũng cho Roxas biết ông đã thấy một bức tượng Phật bằng vàng ở gần tu viện vốn là nơi ở và tổng hành dinh của tướng Yamashita.

Một người Bồ Đào Nha khác tên Albert Fuchigami lại nói với Roxas rằng cha ông là người Nhật đã để lại cho ông nhiều tấm bản đồ kho báu. Gia đình Fuchigami có một sạp bán rau quả ngoài chợ. Ông này nói rằng cha ông có lần đã dẫn ông vào một đường hầm phía sau Bệnh viện Baguio. Đây là đường hầm có lối đi đủ to cho các xe đẩy tay và bên trong chứa toàn vàng. Trước khi chết, cha Albert đã cho ông số bản đồ này.

Roxas là bạn của John Ballinger - sĩ quan Mỹ từng chiến đấu ở Luzon trong đơn vị du kích của đại úy Medina. Chính Ballinger từng chụp ảnh chiếc tàu Fuji Maru ngụy trang thành tàu cứu thương và theo đoàn xe quân sự chở vàng từ vịnh Subic giấu trong hang núi. Sau đó, khi đại đội của Medina thâm nhập Baguio, Ballinger quan sát thấy quân Nhật mang những thùng rất nặng vào trong đường hầm gần bệnh viện. Quân du kích sau đó tấn công bằng súng máy và lựu đạn, đánh sập cửa đường hầm, nhốt sống quân Nhật bên trong. Sau cuộc chiến, Ballinger trở về Mỹ, sống ở New Mexico. Trong một lần trở lại Philippines, John Ballinger nói với Roxas rằng ông nhớ lối vào đường hầm nằm ở gần một hố công sự bê tông. Tuy nhiên, Ballinger không thể chỉ được cái hố đó ở đâu vì hiện trường đã thay đổi qua mấy chục năm.

Phân tích thông tin thu nhặt được từ Fuchigami, Okubo và Ballinger, Roxas kết luận chắc chắn là đường hầm đó tồn tại, vấn đề là phải tìm ra cái hố công sự bê tông đó. Roxas nộp đơn xin chính quyền cho phép được đào tìm kho báu. Thẩm phán vùng Baguio Pio Marcos là cậu của Tổng thống Marcos. Theo đó, chính phủ Philippines sẽ được chia 30% tổng số của cải tìm thấy.

Đầu năm 1970, Roxas cùng nhân công tìm ra đường vào đường hầm bị sập. Nhưng muốn mở được cửa lối vào, quân của ông phải đào thêm 7 tháng nữa. Và sau khi thông đường hầm, đám công nhân lập tức bị dội trở lại vì một luồng xú uế từ các thi thể. Roxas phải đợi 1 tuần lễ trước khi bò được vào bên trong…

Xem tiếp : kho vàng Yamashita


Theo TNO




"ĐIỆP VIÊN MA " CỦA ANH GÓP PHẦN THAY ĐỔI CỤC DIỆN THẾ CHIẾN 2

Trong chiến tranh, hoạt động của các điệp viên là tối quan trọng . Đối với tình báo Anh , tên điệp viên này không cần hoạt động nhưng công lao còn to lớn hơn .

Vai trò của điệp viên là rất lớn
Vai trò của điệp viên là rất lớn

Năm 1943, phe Đồng minh lên kế hoạch thực hiện chiến dịch Husky tấn công hòn đảo chiến lược Sicily ở Italy với hy vọng xoay chuyển cục diện chiến trường Thế chiến II. Để đảm bảo thành công cho chiến dịch, tình báo Anh đã tiến hành một chiến dịch nghi binh tinh vi để đánh lừa phát xít Đức, theo MysteriousUniverse.

Chiến dịch nghi binh mang tên "Thịt băm" được đề xuất, nhằm cung cấp thông tin giả để phát xít Đức tưởng rằng quân Đồng minh sẽ tấn công Hy Lạp và Sardinia chứ không phải đảo Sicily.

Đóng vai trò chính trong chiến dịch "Thịt băm" không phải là các điệp viên Anh, mà là một xác chết. Tình báo Anh lên kế hoạch sử dụng thi thể một người vô danh, cải trang thành "điệp viên" mang theo các tài liệu "tối mật" về chiến dịch tấn công sắp tới của phe Đồng minh, và đưa tử thi này đến tay người Đức.
Nghe có vẻ đơn giản nhưng đây thực ra là một kế hoạch hết sức công phu và tỉ mỉ đến từng chi tiết để có thể qua mặt được tình báo Đức. Ban đầu, người Anh định thả thi thể này từ trên máy bay xuống mục tiêu cùng một chiếc dù không nguyên vẹn.
Tuy nhiên, ý tưởng này bị hủy bỏ vì họ lo ngại quân Đức sẽ nghi việc quân Đồng minh liều lĩnh vận chuyển tài liệu quan trọng theo cách này ngay trên lãnh thổ địch. Phương án được thống nhất là thi thể "điệp viên" trên sẽ được thả trôi dạt vào bờ biển, như thể anh ta bị chết vì hạ thân nhiệt sau khi rơi khỏi tàu.
Tình báo Anh lựa chọn một xác chết vô thừa nhận trong bệnh viện, hóa trang để anh ta trông giống người bị chết cóng trên biển. Bước tiếp theo là tạo ra một hồ sơ giả cho xác chết sao cho chúng giống thật, nhưng không quá chi tiết để ai đó cố gắng tìm ra chân tướng thực sự.

Xác chết được hóa trang thành thiếu tá William "Bill" Martin của thủy quân lục chiến hoàng gia Anh. Cấp bậc thiếu tá được lựa chọn bởi nó không quá thấp để mang theo tài liệu tối mật, nhưng cũng không quá cao để mọi người đều biết đến.

Thiếu tá Martin được tạo một hồ sơ mới rất ấn tượng, sinh năm 1907 ở Cardiff, xứ Wales, đính hôn với một cô gái tưởng tượng tên "Pam" và luôn mang theo bức ảnh của cô trong túi mà trên thực tế là ảnh của nữ nhân viên Nancy Jean Leslie tại MI5. Thậm chí, hai bức thư tình giả của Pam và một hóa đơn mua nhẫn đính hôn còn được giấu trên thi thể.

Tinh vi hơn, người Anh còn bố trí thêm các đạo cụ khác như hai cuống vé xem kịch, một vé xe bus đã qua sử dụng, một hóa đơn mua áo mới, một hóa đơn nghỉ 4 đêm tại Câu lạc bộ Quân đội và Hải quân, và một thư ngân hàng yêu cầu thanh toán khoản thấu chi 79,97 bảng, tất cả đều được in với ngày tháng cận kề thời điểm Martin mất tích… Tình báo Anh đã dành nhiều tháng để tạo dựng hồ sơ tỉ mỉ cho điệp viên hải quân "ma" này.
Điểm mấu chốt của toàn bộ kế hoạch này là những "tài liệu mật" trên xác chết. Các tài liệu này là các bức thư giới thiệu thật, có các chữ ký chính thức và một loạt các thông tin rất thực tế liên quan đến các vấn đề nhạy cảm nhưng không đề cập trực tiếp đến việc tấn công Sicily. Tiếp đến, chúng được bỏ vào trong một chiếc cặp để người Đức tin rằng Martin đang mang theo tài liệu này bên mình. Chiếc cặp sau đó được cột vào cổ tay của thiếu tá Martin bằng một sợi dây xích để chắc chắn nó không bị trôi đi và sẽ được vớt cùng thi thể.

Các tài liệu Martin mang theo
Các tài liệu Martin mang theo

Sau khi chuẩn bị thi thể và tạo dựng xong hồ sơ, Anh bắt tay vào thực hiện chiến dịch. Thi thể Martin được đưa lên tàu ngầm HMS Seraph của Anh và đưa đến ngoài khơi thị trấn Huelva ở bờ biển phía nam Tây Ban Nha, nơi các điệp viên Đức đang hoạt động rất tích cực.

Thi thể sau đó được mặc áo phao và thả xuống biển cách bờ khoảng 1,6 km, một xuồng cao su cứu hộ cũng được thả xuống nước để tạo ấn tượng Martin đã thực sự bị ngã xuống biển. Thậm chí, những ngày sau đó, các báo còn đăng cáo phó về cái chết của Martin để bổ sung giả thuyết này. Đến lúc này, vấn đề chỉ là đợi xem phát xít Đức có bị mắc mưu hay không.

Ngày 30/4/1943, một ngư dân phát hiện ra thi thể Martin và sau gần một tuần căng thẳng chờ đợi của tình báo Anh, tài liệu giả cũng đến được tay các chỉ huy Đức, những người hoàn toàn tin mọi thứ liên quan đến xác chết này.
Các tin tức tình báo gửi về cho thấy kế hoạch đã thành công. Bất chấp việc nhiều chỉ huy Đức và trùm phát xít Mussolini của Italy tin rằng Sicily là mục tiêu sắp bị tấn công, Hitler và Bộ tư lệnh tối cao Đức quyết định điều 90.000 quân, gồm ba sư đoàn thiết giáp Panzer, tăng cường đến Hy Lạp, Sardinia và Corsica để đối phó với một chiến dịch quy mô lớn của quân Đồng minh.

Hải quân Italy rốt cuộc cũng chuyển hầu hết lực lượng của mình đến bờ biển Hy Lạp để ngăn cuộc tấn công của quân Đồng minh, chỉ để lại một lực lượng mỏng phòng thủ Sicily.
Chiến dịch nghi binh thành công đã tạo điều kiện cho quân Đồng minh dễ dàng tấn công Sicily và đè bẹp sự kháng cự yếu ớt của địch ngày 9/7/1943. Ngay cả khi chiến dịch đánh chiếm Sicily diễn ra, quân Đức vẫn cố thủ ở Sardinia và Hy Lạp suốt hơn hai tuần vì tin rằng trận Sicily chỉ là đòn nghi binh cho một cuộc tấn công lớn hơn.
Quân Đồng Minh tấn công Sicily
Quân Đồng Minh tấn công Sicily
Chiến dịch nghi binh này khiến Đức phải trả giá đắt và việc để mất Sicily là một thảm họa với họ. Sau khi phe Đồng minh chiếm Sicily thành công và Mussolini bị lật đổ, Đức buộc phải kết thúc chiến dịch tấn công Nga và chuyển sang phòng thủ trước đà phản công mạnh mẽ của Hồng quân Liên Xô.

Chiến dịch "Thịt băm" được xem là cú lừa ngoạn mục nhất trong lịch sử quân sự, đến mức sau này quân Đức từng có lần nắm được tài liệu thật về một cuộc không kích của Đồng minh, nhưng không hề có biện pháp đối phó vì nghĩ rằng đây lại là một chiêu nghi binh khác.

Theo VNE

Chủ đề liên quan : Thế chiến II , chiến tranh , điệp viên


ĐÃ CÓ KẾT QUẢ BẦU CỬ TỔNG THỐNG MỸ 2016

Mặc dù còn hơn 1 tháng nữa mới đến ngày bầu cử Tổng thống Mỹ , nhưng có lẽ kết quả đã có sau cuộc họp vừa qua của Tổ chức này ????

 
Liệu rằng thế giới đang chịu sự chi phối ngầm ?
Liệu rằng thế giới đang chịu sự chi phối ngầm ?

Đối với nhiều nhà nghiên cứu và học giả, cho rằng các biến cố lớn trong lịch sử nhân loại đều đến từ sự giật dây của những tổ chức bí mật ,khét tiếng như Illuminati, Hội Tam Điểm…

Theo đó, người ta tin rằng các chính phủ trên thực tế chỉ là con rối nằm trong tay một nhóm những cá nhân tinh hoa nhất của nhân loại. Chính phủ bí mật này không chịu trách nhiệm trước các thiết chế dân chủ mà ngược lại những chính quyền danh chính ngôn thuận phải nhất nhất chịu sự sai khiến của họ, theo Hãng thống tấn Sputnik.

Tổ chức Bilderberg

Những người theo thuyết chính phủ bí mật thường xuyên đưa ra một cái tên nổi tiếng, được cho là nắm trong tay quyền sinh sát cả thế giới thời hiện đại, đó là Hội nghị Bilderberg (hay còn gọi là Câu lạc bộ Bilderberg), ra đời năm 1954. Hơn 60 năm qua, vào độ tháng 5 hoặc tháng 6, khoảng 120 - 150 nhân vật thuộc tầng lớp được xem là “tinh hoa nhân loại” tham dự hội nghị thường niên để thảo luận về nhiều vấn đề từ chính trị, kinh tế đến chiến tranh. Số này bao gồm nguyên thủ quốc gia, lãnh đạo chính phủ, quan chức cấp cao, cố vấn, học giả, tướng lĩnh lẫn các tài phiệt lớn nhất thế giới trong các lĩnh vực tài chính, dầu khí, truyền thông... của Mỹ và Tây Âu.

Theo BBC, Hội nghị Bilderberg được gọi theo tên nơi diễn ra cuộc họp đầu tiên từ 29 - 31.5.1954 là khách sạn Bilderberg ở làng Oosterbeek, phía đông Hà Lan. Hội nghị ra đời từ ý tưởng của chính trị gia Ba Lan Józef Retinger, hoàng thân Hà Lan Bernhard (ông ngoại vua Willem-Alexander hiện nay), Chủ tịch Tập đoàn Unilever Paul Rijkens, chính trị gia Anh Denis Healey và Giám đốc CIA Walter Bedell Smith.

Nội dung kỳ họp năm 1954 được cho là xoay quanh vấn đề tăng cường hợp tác giữa Mỹ và Tây Âu để đối phó Liên Xô và đóng vai trò rất quyết định trong việc hình thành EU. Sau đó, một ban thư ký được thành lập để xử lý thường vụ trong mỗi lần hội họp cũng như chọn mời ai tham dự. Tổng thư ký hiện nay là Henri de Castries, Chủ tịch Tập đoàn tài chính - bảo hiểm AXA. Ngoài ra, vị trí cố vấn cấp cao cho hội nghị đang do nhà tài phiệt Mỹ David Rockefeller đảm nhận.

Điểm đặc trưng nhất và cũng gây tranh cãi nhất của Hội nghị Bilderberg là tính bí mật. Báo chí không được tham gia, người tham dự không được mang theo vợ chồng hay trợ lý, còn lực lượng an ninh cả công lẫn tư lập hàng rào dày đặc bên ngoài. Người tham gia được tự do sử dụng mọi thông tin nhận được, nhưng không được phép tiết lộ danh tính, hoặc các mối liên hệ, với nguồn tin cũng như nội dung hội nghị.

Theo website chính thức Bilderbergmeetings.org, hội nghị là “diễn đàn không chính thức và hoàn toàn riêng tư, nơi người tham dự có thể tự do thảo luận về các định hướng chủ đạo trong mọi lĩnh vực cũng như những vấn đề mà thế giới đang đối mặt. Hội nghị không có chương trình nghị sự chi tiết, không có nghị quyết, không bỏ phiếu và không có tuyên bố chính sách”. Thế là chuyện một nhóm nhỏ quyền lực và giàu có nhất thế giới họp bàn bí mật trở thành nguồn cơn của những giả thuyết “điên rồ” nhất.

Lâu nay, biết bao người bị ám ảnh bởi nghi ngờ rằng Hội nghị Bilderberg chính là nơi quyết định ai trở thành tổng thống Mỹ hay thủ tướng Anh, ai ngồi ghế lãnh đạo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) hay Ngân hàng Thế giới (WB) còn tranh cử với cả bỏ phiếu chỉ là những “màn diễn ngoạn mục”. Trong sách La Verdadera Historia del Club Bilderberg (tạm dịch: Câu chuyện thật về Tổ chức Bilderberg), nhà báo Tây Ban Nha Daniel Estulin dẫn ra một loạt “trùng hợp”: George H.W.Bush tham dự năm 1985 và trở thành Tổng thống Mỹ 3 năm sau đó. Bill Clinton có mặt năm 1991 và chỉ một năm sau đã bước vào Nhà Trắng. Ngày 7.6.2008, bà Hillary Clinton bất ngờ tuyên bố rút lui, nhường quyền đại diện đảng Dân chủ tranh cử tổng thống Mỹ cho ông Barack Obama giữa lúc cuộc đua vẫn rất sít sao.

Đáng chú ý là Hội nghị Bilderberg năm đó diễn ra từ ngày 5 - 8.6.2008 tại bang Virginia của Mỹ. Theo Đài RT, vào ngày 5.6, cả ông Obama lẫn bà Clinton đều... mất tích trong vài giờ. Khoảng thời gian đó không được nhắc tới trong lịch trình tranh cử chính thức, còn truyền thông Mỹ thì hoàn toàn im lặng. Vô số đồn đoán được đưa ra nhưng tất cả đều có chung kết luận là 2 người được vời tới hội nghị để thỏa hiệp.

Theo ông Estulin, Hội nghị Bilderberg nhắm tới giấc mộng thống trị toàn cầu bằng cách tạo ra “Chính quyền Một thế giới, với thị trường toàn cầu duy nhất, do quân đội Một thế giới quản lý và được rót tài chính từ một ngân hàng trung ương toàn cầu với một dạng tiền tệ phổ biến chung thông qua IMF, WB và WTO”. Một trong số những mục tiêu chính là tập trung hóa mọi chính sách đối ngoại và đối nội, xây dựng nhân dạng quốc tế chung và một bộ giá trị phổ biến; biến NATO thành sen đầm quốc tế... kiểm soát tư tưởng cũng như lối sống bằng truyền thông, internet và chủ nghĩa tiêu thụ...

Tác giả Estulin cho rằng những “kẻ điều khiển rối Bilderberg” đã tạo khủng hoảng dầu mỏ thập niên 1970 để nâng giá dầu, gây ra chính biến “Mùa xuân Ả Rập”... Trang TruTV thậm chí còn đi xa hơn khi cho rằng những đại dịch như SARS, cúm A/H1N1, Ebola… đều là “nhân tạo” hoặc bị thổi phồng để khiến cả thế giới phải “phụ thuộc vào WHO và các hãng dược”.

“Thử tưởng tượng một câu lạc bộ tư nhân nơi các tổng thống, thủ tướng, chủ ngân hàng quốc tế và giới tướng lĩnh vỗ vai thân mật với nhau. Ai cũng cảm thấy thoải mái và có thể tự do nói những điều mà phần còn lại của thế giới không bao giờ biết được”, ông Estulin viết.

Le Cercle

Bên cạnh đó, một số chuyên gia khác cho rằng Hội nghị Bilderberg hợp tác chặt chẽ với Tổ chức Le Cercle, cũng được thành lập vào thời Chiến tranh lạnh. Le Cercle ra đời vào đầu thập niên 1950 và đảm nhiệm vai trò diễn đàn tình báo bí mật chống lại Liên Xô. Theo tác giả David Teacher viết trong quyển Rogue Agents: Habsburg, Pinay and the Private Cold War 1951 - 1991 (tạm dịch: Những đặc vụ tội phạm: Habsburg, Pinay và cuộc Chiến tranh Lạnh bí mật 1951 - 1991), Le Cercle tập trung vào các hoạt động lật đổ, bôi nhọ các chính khách cấp tiến tại châu Âu và Mỹ, từ đó mở đường cho các ứng viên được “các ông chủ” chọn lựa.

“Tình báo Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Bỉ cho đến Nam Phi và Ả Rập Xê Út đều đóng vai trò chân rết của Le Cercle. Về chính trị, tổ chức này hoạt động ăn khớp với Hội nghị Bilderberg và nhiều tổ chức khác... Trong số những nhân vật nổi bật nhất có dính líu với Cercle là Margaret Thatcher và Ronald Reagan”, ông Teacher tuyên bố.

Liệu rằng thế giới và người dân Mỹ có đang theo dõi một cuộc cạnh tranh gây tốn kém giấy mực báo giới , kinh phí tổ chức , mà vốn dĩ đã có kết quả từ giữa năm rồi ????


Theo TNO

TRẬN CHIẾN SINH TỬ GIỮA HAI HUYỀN THOẠI BẮN TỈA

Cuộc đối đầu giữa những kẻ giỏi nhất luôn để lại nhiều cảm xúc cho người trong cuộc và những người được nghe kể lại từ lịch sử .

Stalingrad - nơi diễn ra cuộc chiến sinh tử
Stalingrad - nơi diễn ra cuộc chiến sinh tử

Mùa đông năm 1942, thành phố Stalingrad của Liên Xô trở thành tâm điểm giao tranh ác liệt trong cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của Hồng quân trước cuộc xâm lược của phát xít Đức. Thành phố hoang tàn đổ nát vì bom đạn này cũng được cho là nơi đã diễn ra trận đấu súng sinh tử nổi tiếng nhất giữa hai lính bắn tỉa huyền thoại, theo WarisBoring.

Một bên là Vasily Zaitsev, lính bắn tỉa cự phách của quân đội Liên Xô với bảng thành tích tiêu diệt khoảng 400 tên địch, bên kia là "thiếu tá Konig", hiệu trưởng trường bắn tỉa của quân đội Đức ở Berlin, người được bộ tư lệnh tối cao phát xít Đức biệt phái tới Stalingrad để săn lùng Zaitsev. Họ chạm mặt nhau trong một buổi chiều định mệnh, với màn săn đuổi, đấu trí một mất một còn, và chỉ có Zaitsev sống sót để kể lại câu chuyện.

Trận đấu súng sinh tử giữa hai siêu xạ thủ này trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật, trong đó có bộ phim "Enemy at the Gate" (Kẻ thù trước cửa) năm 2001. Trong cuốn tự truyện "Những ghi chép của một lính bắn tỉa Nga", Zaitsev đã thuật lại cách ông nghiên cứu chiến trường tỉ mỉ như thế nào, nghi binh ra sao để có thể hạ gục được Konig giữa những tòa nhà đổ nát dọc chiến tuyến Xô - Đức.

Người lính bắn tỉa cự phách của Hồng quân Liên Xô kể rằng ông phải cùng người đồng đội Kulikov tìm cách gài bẫy Konig, bởi tay súng này đã từng hạ gục nhiều chiến sĩ bắn tỉa của Hồng quân.

Vasily Grigoryevich Zaitsev
Vasily Grigoryevich Zaitsev

"Kulikov bắn một phát đạn vu vơ để thu hút sự chú ý của Konig. Tuy nhiên chúng tôi quyết định án binh bất động trong buổi sáng ngày hôm đó, bởi ánh sáng Mặt trời phản xạ từ kính ngắm có thể khiến chúng tôi bị lộ. Vào buổi chiều, chúng tôi ở trong bóng râm, trong khi Mặt trời chiếu thẳng vào vị trí của tay súng bắn tỉa Đức", Zaitsev viết trong cuốn tự truyện.

Ông bất ngờ phát hiện một tia sáng lóe lên bên dưới một tấm tôn nằm giữa những bức tường đổ nát. Đó có thể là ánh sáng phản xạ từ súng trường của Konig, nhưng cũng có thể chỉ là một mảnh thủy tinh vỡ.

Để chắc ăn, Zaitsev ra hiệu cho Kulikov đang nấp sau bức tường dùng gậy giơ chiếc mũ sắt lên phía trên. Tiếng súng rền vang, tay bắn tỉa Đức đã nhắm trúng vào chiếc mũ sắt đó. Kulikov giả vờ nhổm dậy và hét to rồi gục xuống như thể vừa trúng đạn.

Đó là khoảnh khắc mà Konig phải trả giá cho sai lầm cuối cùng của mình, Zaitsev viết. Cho rằng kẻ địch đã chết, Konig ló nửa đầu lên khỏi tấm tôn để quan sát thành tích. "Tôi lập tức nổ súng, đầu của anh ta gục xuống, kính ngắm quang học trên khẩu súng trường của xạ thủ này lóe lên dưới ánh mặt trời".

Theo VNE


Chủ đề liên quan : Thế chiến II , chiến tranh , Lính bắn tỉaZaitsev

KHO VÀNG YAMASHITA : CUỘC CHIẾN GIỮA TỔNG THỐNG MARCOS VÀ TỈ PHÚ MANILA

Santa Romana , tay cựu tình báo ngầm khét tiếng với vai trò “người gác cổng” cho khối tài sản khổng lồ của CIA . Cuộc đời của ông nhiều lần gắn chặt với nỗi lo sợ về Tổng thống Marcos .

Tướng Mỹ kiểm tra một phần kho vàng Yamashita
Tướng Mỹ kiểm tra một phần kho vàng Yamashita

Có nhiều lời đồn thổi về mối quan hệ giữa Santy và Marcos. Có nguồn bảo rằng, 2 người này bắt đầu thân từ những năm đầu thập niên 1960, khi Marcos chưa lên làm tổng thống. Nhưng cũng có nguồn cho rằng Santy là bạn thân của Imelda khi bà còn là nữ hoàng sắc đẹp ở Leyte, thậm chí có nguồn còn nói Imelda từng là “mèo” của Santy.

Ở thời điểm này, Santy là mẫu đàn ông bất kỳ cô gái nào cũng mơ ước. Anh ta vừa cao lớn, đẹp trai, vừa mạnh mẽ, rất ga lăng với quý cô và quan trọng là... rất nhiều tiền.

Là người trực tiếp tra tấn tài xế của tướng Yamashita, Santy nhanh chóng giúp CIA khai quật toàn bộ số kho báu do tay tài xế này chỉ điểm. Từ đó, Santy trở thành người gác cổng cho các tài khoản vàng “đen” của CIA ở khắp nơi trên thế giới, với nhiều bí danh khác nhau. Khoảng năm 1970, tổng số tiền Santy đứng tên trên các tài khoản khác nhau lên đến 50 tỉ USD. Santy được hưởng phí hằng năm dựa trên tổng số tiền nắm giữ. Là người khôn khéo, hơn nữa, nghề tình báo giúp ông có một sự lựa chọn không ồn ào trong cuộc sống, Santy không bao giờ bước vào thế giới của những người nổi tiếng. Ở Philippines, người ta gọi ông là “The Man With No Name” (Người đàn ông không tên). Santy có một cuộc sống hoàn hảo, sở hữu nhiều căn nhà lớn ở Manila và Cabanatuan, và ông bao luôn một căn phòng suite suốt năm tại khách sạn Manila Hilton. Bên ngoài Philippines, chẳng ai biết đến cái tên Santy cả, trừ giới chủ ngân hàng. Và cũng chưa có bài báo nào viết về một “tỉ phú bí mật của Manila” cả.

Người được cho là Santa Romana (Santy)
Người được cho là Santa Romana (Santy)

Tại Philippines, tiền của Santy đưa Fernando Marcos lên ghế tổng thống vào năm 1965. Trong The Marcos Dynasty (Đế chế Marcos), tác giả Sterling & Peggy Seagrave mô tả vị tổng thống Philippines này “đã làm tất cả những gì có thể để hài lòng Mỹ và CIA trong việc mở rộng chiến tranh tại Đông Dương”. Marcos thuyết phục Nhà Trắng rằng ông có thể giúp “bán cuộc chiến tranh VN cho tất cả các quốc gia Đông Nam Á khác bằng cách dùng tiền của Santy để hối lộ lãnh đạo các quốc gia này”.

Khi ngồi vào ghế tổng thống, Marcos tiếp tục ủng hộ Mỹ ở chiến tranh Đông Dương. Đổi lại, Marcos đòi Nhà Trắng phải cam kết giữ vững cho ông ta ghế tổng thống. Marcos được giữ ở dinh Malacanang đến tận năm 1986 trước khi sụp đổ dưới triều Tổng thống Reagan.

Cuối nhiệm kỳ 4 năm đầu tiên, Marcos gặp khủng hoảng với giới truyền thông. Imelda bị báo chí tẩn một trận tơi tả vì xài một phát 3,3 triệu USD chỉ trong 1 ngày shopping tại New York năm 1968. Cùng thời điểm này, Imelda mở những tài khoản khủng tại City Bank ở Manhattan. Cũng tại nhà băng này, tài liệu thuế cho thấy rằng Santy cũng có những tài khoản lớn bằng tiền mặt và vàng thỏi.

Cùng thời gian này, CIA có thay đổi lớn trong đội ngũ lãnh đạo. Những người từ tổ chức tiền thân OSS từng nhúng tay vào các hoạt động tìm kiếm kho báu năm 1945 - 1947 dần bị chuyển đi, những nhân vật mới lên không nắm được toàn bộ số tài khoản Santy đang giữ. Từ nhiều năm nay, Santy được bảo vệ bởi những tay CIA cộm cán này. Giờ đây họ không còn tại vị để bảo bọc Santy, Marcos nắm ngay bối cảnh nhá nhem đó nên liên tục dọa dẫm, gây sức ép buộc Santy phải chuyển giao toàn bộ tài khoản.

Tổng thống Marcos
Tổng thống Marcos

Mệt mỏi sau 25 năm làm nghề “gác cổng”, Santy bắt đầu nghiện rượu và mất kiểm soát đối với Marcos. Bạo lực là một phần của lịch sử dinh Malacanang. Dinh này nổi tiếng với một căn phòng gọi là Black Room, nơi đây, nhiều người đã bị tra tấn và bị sát hại. Bất kỳ ai qua mặt tổng thống đều bị sát hại một cách ghê rợn, xác bị vứt ngoài vệ đường, tròng mắt bị móc ra và treo trên thân cây.

Trước những đòn tấn công liên tục của Marcos, Santy bắt đầu có những bước đi nhằm tự bảo vệ mình, bảo vệ tiền, vàng trước nguy cơ bị Marcos ra sắc lệnh tịch thu. Người được Santy tin tưởng là Tarciana Rodgriguez - cháu gái của Luz Rambano - tình nhân của Santy trong 3 năm cuối đời. Santy biến Tarciana thành thủ quỹ của tất cả các công ty bề nổi của mình, giao cho cô quản lý những tài khoản hàng tỉ USD tiền mặt, vàng thỏi, sổ gửi vàng, chứng khoán và nhiều tài sản khác trên toàn thế giới.

Sau khi Marcos ra tay cướp bức tượng Phật vàng và bắt nhốt, tra tấn Rosax để tìm ra kho báu, Santy bắt đầu cảm thấy sợ. Santy đem theo 43 triệu USD, kéo Luz đến First National City Bank (bây giờ là Citybank) để mở tài khoản. Số tiền này toàn mệnh giá nhỏ, khiến nhân viên ngân hàng phải đếm mất 6 ngày mới hoàn tất.

Santy cũng thuê 9 két riêng tại ngân hàng này để đựng tiền mặt và trang sức. Ngay trước ngày Marcos áp dụng thiết quân luật, Santy đã nhanh tay chuyển 800 triệu USD ra khỏi Philippines, từ First National City Bank Manila sang City Bank of New York.

Cuộc tranh giành kho báu Yamashita
Cuộc tranh giành kho báu Yamashita

Ngày 27.2.1973, Marcos cho quân triệu Santy đến dinh Malacanang. Trong phòng riêng của tổng thống, Santy bị ép phải ký vào một bản di chúc được lập sẵn, nội dung là Santy (với tất cả những tên gọi, bí danh giao dịch trước đây) đồng ý để lại toàn bộ bất động sản, tài khoản tiền mặt, vàng nén... ở các ngân hàng thế giới cho vợ là Julietta Huerto được toàn quyền sử dụng.

Bản di chúc này, về kỹ thuật thì Santy để lại tài sản cho người vợ đã ly thân (đạo Công giáo ở Philippines không cho phép ly dị), nhưng ai cũng hiểu, một khi Santy chết, Marcos sẽ dễ dàng cưỡng bức Huerto và các tài khoản sẽ nhanh chóng chuyển qua tay Marcos.

Chỉ 1 tháng sau, tháng 3.1973, Santy lại một lần nữa có cảm giác sợ hãi và ông chuyển 500 triệu USD từ Manila sang HSBC của Hồng Kông. Cùng thời gian này, các tài liệu ngân hàng cũng cho thấy ông cũng chuyển 1.640 tấn vàng đến một ngân hàng Hồng Kông, sau đó đến tiếp Sanwa Bank của Nhật. Không lâu sau đó, trong một chuyến đi đến Tacloban, Leyte, Santy uống quá nhiều và nói toạc toàn bộ nỗi sợ hãi của mình đang đối mặt. Lập tức, lính của Marcos đến bắt cả ông và cô bạn gái Luz vì tội danh “nói xấu sau lưng tổng thống” và giam giữ 2 người tại một căn cứ quân sự trên đảo Leyte.


Theo TNO

Xem tiếp : Kho vàng Yamashita




TOM CRUISE VÀ GIÁO PHÁI SCIENTOLOGY - KỲ 2

"Going Clear" : giáo phái Scientology bị bóc trần .

Going Clear chịu nhiều sóng gió khi thực hiện
Going Clear chịu nhiều sóng gió khi thực hiện


Hành trình khám phá Scientology với bộ phim làm trong 2 năm cùng 160 luật sư

Làm được một bộ phim tài liệu có sức bùng nổ về Scientology không phải là điều dễ dàng. Đạo diễn Alex Gibney từng đoạt giải Oscar cho biết lúc đầu ông đã từ chối ngay lời mời làm phim về Giáo hội Scientology.

Giống như nhiều đạo diễn muốn điều tra giáo phái kỳ lạ này, ông Gibney cũng rất e ngại khả năng vướng vào một cuộc chiến pháp lý tốn kém.

Thế nhưng, sau khi được mời một lần nữa, đạo diễn Gibney đã quyết định mạo hiểm. Lý do khiến ông tham gia là vì có sự cộng tác của nhà báo Lawrence Wright - tác giả cuốn sách "Going Clear: Scientology, Hollywood & The Prison of Belief" (tạm dịch: Scientology, Hollywood và tù nhân đức tin).

Dự án làm phim "Going Clear" kéo dài 2 năm và HBO đã thuê tới 160 luật sư để xem xét giải quyết các vấn đề pháp lý, kiện tụng.

Do Scientology khét tiếng vì theo dõi những người tìm cách tìm hiểu giáo hội và giám sát, quấy rối những thành viên đã rời bỏ giáo phái, nên ông Gibney rất cẩn trọng trong việc đảm bảo an toàn cho những người xuất hiện trong bộ phim.

Ông không ghi hình những người đã từng theo giáo phái ở nhà riêng và ông cũng không đến địa điểm gặp cùng lúc với nhân vật mình muốn ghi hình. Cách tiếp cận bí mật này được đạo diễn học từ nhà báo Wright - người đã sử dụng phương pháp này phỏng vấn họ để lấy tư liệu viết sách. Họ sợ Scientology đến mức đạo diễn Gibney phải dùng điện thoại sử dụng một lần và thư điện tử luôn được mã hóa.

Trong quá trình làm phim, Gibney phát hiện ra giới truyền thông cũng rất sợ Scientology. Ông không thể xin bản quyền từ các cơ quan báo chí để dùng các đoạn video liên quan tới Scientology trong phim bởi họ đều từ chối vì lý do pháp lý.

Đạo diễn Gibney
Đạo diễn Gibney
Cực chẳng đã, Gibney và nhóm làm phim phải tuyên bố quyền "sử dụng hợp lý" (fair-use) để có thể sử dụng hạn chế các tài liệu có bản quyền mà không cần xin phép.

Kể từ khi bộ phim ra mắt tại Liên hoan phim Sudance hồi tháng 1 vừa qua, Scientology đã liên tục công kích để hủy hoại danh tiếng của đạo diễn Gibney và bộ phim. Giáo hội này đã mua hẳn một trang quảng cáo trên tờ The New York Times trước khi phim ra mắt để tấn công bộ phim.
Tháng 2/2015, giáo hội này  đã tung một video lên YouTube phủ nhận cáo buộc ngược đãi các thành viên Sea Organization và tung chiêu PR cho các thành viên giáo hội.

"Cha đẻ" của Scientology

Không chỉ khắc họa các thành viên giáo hội, bộ phim còn nói nhiều về nhà văn khoa học viễn tưởng L. Ron Hubbard, "cha đẻ" của giáo hội gây tranh cãi Scientology.

Sau khi bỏ học Trường đại học George Washington năm 1932, Hubbard bắt đầu viết tiểu thuyết lá cải và nhận tiền công mỗi từ một xu.

Hubbard "đẻ sòn sòn" tới trên 1.000 quyển sách và giữ kỷ lục Guinness thế giới về số lượng sách xuất bản nhiều nhất. Ông ta còn nắm giữ kỷ lục Guinness dành cho tác giả có tác phẩm được dịch nhiều nhất, tác giả có sách âm thanh được xuất bản nhiều nhất, tác giả có một cuốn sách (The Way to Happiness) được dịch nhiều nhất.

Nhiều điều về Scientology đều được Hubbard viết trong các cuốn tiểu thuyết viễn tưởng. Trong đó có thuật ngữ "clear", cấp độ mà một người đạt được trong giáo hội khi hoàn toàn không có cảm giác tổn thương và các cảm xúc không mong muốn.

Trước khi thành lập Scientology, Hubbard từng là một sĩ quan trong hải quân. Ông ta tham gia các trận đánh lớn trong Thế chiến II. Ông ta cũng có tật hay phóng đại chiến tích của mình. Ví dụ, ông ta khoe mình đã đánh chìm hai tàu ngầm của Nhật Bản. Nhưng trong thực tế, ông ta chỉ nã đạn vào… một khúc gỗ nổi lềnh bềnh ngoài bờ biển Oregon.

Sau Thế chiến II, Hubbard dọn tới Los Angeles, kết bạn với một kỹ sư về rốckét tên là Jack Parsons và cùng người này tham gia vào chi nhánh ở California của giáo phái ma thuật đen Ordo Templi Orientis.

Chẳng bao lâu sau, Hubbard "cuỗm" mất cô bạn gái của Parsons và hai người bỏ trốn. Trong bộ phim, cô bạn gái đó, Sara Northrup, đã xuất hiện và nhớ lại thời gian ở bên Hubbard. Sara Northrup cho biết Hubbard đã quyến rũ bà với những câu kiểu như "anh là anh hùng chiến tranh", là thuyền trưởng một con tàu bị đắm ở Thái Bình Dương, từng sống vài tuần trên một cái bè gỗ trôi giạt giữa đại dương, bị mù mắt do ánh mặt trời, bị gãy lưng trong thời chiến.

Thực tế là sau khi rà soát tài liệu, HBO phát hiện ra Hubbard chỉ bị chứng viêm khớp nhẹ và viêm màng kết. Quan hệ của hai người rất sóng gió. Trong một trận cãi vã, Hubbard nói với Northrup rằng ông ta sẽ tự tử nếu bà không lấy ông ta. Năm 1946, họ kết hôn và có một con gái.

Năm 1950, gia đình họ chuyển tới New Jersey. Tại đây, Hubbard bắt đầu viết cuốn “Dianetics”, nền tảng mà sau này ông ta xây dựng giáo phái Scientology.

Nguyên tắc cơ bản của “Dianetics” là: Não con người ghi lại mọi trải nghiệm và sự kiện cả tốt lẫn xấu. Trải nghiệm xấu (engram) có thể làm tổn thương con người nếu chúng bị kích hoạt. Bằng cách thực hiện "kiểm toán", tức là trả lời những câu hỏi rất riêng tư do một "kiểm toán viên" đưa ra, người đó có thể xóa sạch engram để đạt tới mức "clear" - trạng thái tinh thần hoàn hảo.

Bà Northrup cho biết động cơ của chồng bà đằng sau cuốn “Dianetics” không phải là dựa trên khoa học hay hy vọng giúp đỡ mọi người. Hubbard từng nói với bà: "Cách duy nhất để kiếm tiền là có tôn giáo". Hubbard muốn tạo thu nhập từ tôn giáo để chính phủ không thể moi của ông ta một xu tiền thuế.

Cuốn “Dianetics” trở thành một hiện tượng văn hóa. Hubbard bắt đầu đi khắp nước Mỹ để nói với mọi người rằng những gì trong cuốn sách là liều thuốc cho mọi căn bệnh tâm lý của loài người.

Vào những năm 50, người ta trả 500 USD để được tập huấn về Dianetics. Việc làm này khiến bà Northrup cho rằng, chồng mình đang ăn cắp tiền của mọi người.
Scientology và những nhân vật quyền lực
Bà viết: "Anh ta bắt đầu tin rằng mình là đấng cứu thế, là anh hùng, là chúa trời". Bà từng dọa bỏ Hubbard nếu ông không đi tư vấn tâm lý. Đáp lại lời de dọa của vợ, Hubbard trốn tới Cuba cùng con gái của họ. Tuy nhiên, ông ta không thể chăm sóc con và đã đưa cô bé cho một bà mẹ tâm thần.

Cô bé được cho là bị nhốt trong cũi. Sau đó, Hubbard gọi điện nói với vợ rằng ông ta đã giết con gái, chặt con thành từng mảnh nhỏ và ném xuống sông và đó là lỗi của bà. Rồi ông ta lại gọi và bảo con bé vẫn còn sống. Mọi chuyện cứ thế trôi qua trong nỗi đau đớn tột cùng của Northrup.

Cuối cùng, năm 1951, Hubbard đồng ý ly dị vợ và để cho vợ được toàn quyền nuôi con. Khi ly dị, ông ta rút sạch tài khoản của cả hai trong ngân hàng.

Đến năm 1952, khi cuốn “Dianetics” dần bị quên lãng, Hubbard lại lâm vào cảnh túng quẫn. Ông ta bắt đầu lồng ý tưởng của cuốn sách thành đức tin và thực hành cái gọi là Khoa luận giáo. Lúc đầu, giáo phái của ông ta chỉ có 38 người và hiện giờ đã là 50.000 người, giảm một nửa so với thời cực thịnh 100.000 thành viên.

Cuối những năm 60, Cục thuế điều tra Hubbard vì tội trốn thuế và ông ta cao chạy xa bay khỏi Mỹ ra biển. Ở đó, ông ta thành lập Sea Organization (Tổ chức Biển) về sau trở thành tăng lữ của Scientology. Thành viên cam kết trung thành với giáo hội thông qua hợp đồng 1 tỉ năm. Hubbard bắt đầu nghĩ ra các biện pháp trừng phạt cho ai mắc lỗi. Một trong các biện pháp đó là quẳng họ khỏi thuyền.

Giữa những năm 70, các thuyền của Hubbard không được cập cảng ở Địa Trung Hải. Ông ta ẩn nấp gần bờ ở Florida để không gây chú ý với Cục thuế và ông ta sống cả quãng đời còn lại trong lẩn trốn.

Năm 1979, trong một cuộc đột kích của Cục Điều tra Liên bang Mỹ, 11 thành viên cấp cao giáo hội đã bị kết tội cản trở luật pháp, trộm cắp. Năm 1986, Hubbard chết vì đột quị ở tuổi 74.

Trước khi chết, ông ta không có kế hoạch chuẩn bị người thay mình quản lý giáo hội và lúc đó David Miscavige nhảy vào, rồi nhanh chóng lên làm chủ tịch giáo hội đến tận bây giờ.

Dưới thời của Miscavige, giáo hội phát triển với cấp số nhân. Scientology chính thức được công nhận là tôn giáo được miễn trừ thuế ở Mỹ năm 1993 và từ đó, giáo phái này mở rộng hệ thống nhà thờ khắp thế giới. Các nhà thờ đều tọa lạc ở những vị trí đẹp trị giá đến hàng trăm triệu USD.

Theo TPO



Chủ đề liên quan : Tom Cruise , giáo phái Scientology , giáo phái bí ẩn