Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn tượng đá cổ. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn tượng đá cổ. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

BÍ ẨN VỀ ĐẢO PHỤC SINH

Nổi tiếng thế giới về những bức tượng đá cổ , đảo Phục Sinh ở Chile từ lâu luôn thu hút những nhà Khoa học , những nhà nghiên cứu lịch sử đến giải mã bí ẩn về các kí tự cổ trên tượng . Quá trình hình thành và cộng đồng cư dân ở đây cũng chưa từng có lời giải cụ thể .

Đảo Phục Sinh
Đảo Phục Sinh

Vào ngày chủ nhật đầu tiên của tháng tư năm 1722, nhà thám hiểm người Hà Lan Jacob Roggeveen phát hiện ra một hòn đảo mới trong hành trình vượt biển của mình. Kể từ ngày đó, hòn đảo có diện tích hơn 163 km2 có tên chính thức trên hải đồ quốc tế là đảo Phục Sinh. Hiện nay, đảo thuộc lãnh thổ Chile.

Trong tiếng bản địa, đảo có tên là Rapa Nui còn theo tiếng Tây Ban Nha là Isla de Pascua. Đây là một trong bốn hòn đảo nằm cách biệt nhất với thế giới, cách đảo gần nhất Pitcairn hơn 2.000 km về phía đông và cách Chile lục địa khoảng 3.600 km về phía tây. Kể từ khi được phát hiện cho đến nay, cái tên đảo Phục Sinh vẫn luôn là đề tài nóng hổi trong giới khoa học và những người yêu thích du lịch bởi sở hữu những điều huyền bí, những lời đồn đại về một nền văn minh đã mất.

Lần đầu đặt chân lên đảo, thuyền trưởng Jacob vô cùng ngạc nhiên vì nơi đây vắng bóng người, cây cối trơ trụi nhưng lại có hàng trăm pho tượng với kích thước khá lớn nẳm rải rác, có nhiều bức xếp đều tăm tắp nhìn ra biển khơi. Điểm giống nhau là chúng đều có khuôn mặt dài, hai mắt lõm sâu, lông mày rậm, miệng nhô, tai dài, sống mũi cao gồ, mặt hướng ra biển hoặc hướng về phía mặt trời.

Sau đó, đoàn thủy thủ đi cùng Jacob lại phát hiện thêm hàng trăm pho tượng khác đang trong tình trạng chế tác dang dở ở phía đông nam đảo. Bên cạnh sự sửng sốt và kính sợ, đoàn người châu Âu thời bấy giờ còn cùng chung một thắc mắc: Ai đã tạo ra những pho tượng này? Làm thế nào để họ tạo ra chúng và những người đó giờ đã đi đâu? Để trả lời cho câu hỏi lớn này, các nhà khoa học trên thế giới đã phải mất gần 3 thế kỷ sau đó tìm tòi, nghiên cứu để thỏa mãn dư luận.

Những bức tượng bí ẩn trên đảo Phục Sinh
Những bức tượng bí ẩn trên đảo Phục Sinh

Đến nay, đã có gần 900 pho tượng đá có hình thù kỳ dị (được gọi là Moai), có niên đại ít nhất từ thế kỷ 12 được phát hiện trên đảo. Các nhà khoa học chỉ ra rằng chúng đều được tạc dựa theo hình ảnh tổ tiên của những người thổ dân bản địa với kích thước khá lớn, nặng từ vài chục đến hàng trăm tấn. Mỗi pho tượng mang một đặc tính khác nhau như cao, thấp, béo, gầy... và đều được chạm khắc tinh xảo.

Bên cạnh những bức tượng có nguồn gốc kỳ lạ, đảo Phục Sinh còn khiến thế giới hiện đại phải ngỡ ngàng khi xuất hiện những văn tự cổ sử dụng thứ ngôn ngữ viết đầy bí ẩn Rongo-rongo. Ngày nay, chỉ còn 26 tấm thẻ gỗ có dạng chữ này và ý nghĩa của chúng vẫn chưa được bật mí. Với những kiệt tác trên, nhiều người đã tin vào giả thiết cách đây nhiều thế kỷ trên đảo đã xuất hiện một nền văn minh tiến bộ và rực rỡ. Vào thời kỳ đỉnh cao trên đảo có khoảng 20.000 người Rapa Nui cổ đại. Nhờ đất đai màu mỡ và trí tuệ tinh thông, họ đã phát triển một nền văn hóa rực rỡ nhưng dân cư dần sụt giảm và gần như biến mất vào giữa thế kỷ 19. Và người ta muốn biết, điều gì đã xảy ra tại nơi này?

Trước đây, phần lớn giả thiết nói về sự biến mất bí hiểm của một nền văn minh và sự ssuy giảm dân số là do lỗi của các thổ dân. Họ tạc những bức tượng Moai để tiến hành các nghi lễ tôn giáo. Những cánh rừng phần lớn bị đốn để làm công cụ dựng tượng dẫn đến cây cối trên đảo trơ trọi dần. Sự tàn phá môi trường đã ảnh hưởng lớn đến độ màu mỡ của đất canh tác khiến con người rơi vào hoàn cảnh ăn thịt đồng loại.

Tuy nhiên trong một nghiên cứu mới nhất được công bố rộng rãi vào đầu tháng 1/2015, các chuyên gia chỉ ra rằng khi rừng cọ bị tàn phá cư dân trên đảo Phục Sinh vẫn sống sót bình thường. Sự suy giảm dân số nghiêm trọng là do sự xuất hiện của người châu Âu - những người đã khám phá ra vùng đất này và mang đến đây đủ các loại bệnh lậu như giang mai, bệnh đậu mùa và chế độ nô lệ.

  Hình ảnh những bức tượng luôn thu hút du lịch
Hình ảnh những bức tượng luôn thu hút du lịch

Dù mang lợi thế là hòn đảo với những điều huyền bí của tự nhiên cùng cảnh quan tươi đẹp và vị trí địa lý độc đáo, chính quyền tại nơi được mệnh danh là "cô lập nhất hành tinh" ngày nay không hề có ý định biến nơi đây thành một điểm du lịch hút khách. Người dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề chăn nuôi gia súc và luôn có ý thức cao trong việc giữ gìn phong tục truyền thống. Họ gần như không mấy hào hứng với sự xâm nhập của nền văn minh bên ngoài, cũng không muốn cuộc sống bị xáo trộn bởi khách du lịch thập phương. Theo số liệu từ năm 2012 của chính phủ Chile, hiện dân số trên đảo vào khoảng gần 6.000 người, hơn nửa số đó là dân bản địa gốc.

Đối với nhiều khách du lịch, họ không mấy quan tâm đến các kết luận khoa học. Dư âm từ những truyền thuyết, những tranh cãi tồn tại từ nhiều năm nay vẫn khiến cho đảo Phục Sinh trở thành một nơi vừa cuốn hút, vừa mãi mãi xa lạ đối với những người luôn khao khát điều huyền bí.


Theo VNE



KHO BÁU NGƯỜI CHĂM - KỲ 2

Lời đồn rằng , có một cặp Bạch Xà ngày đêm canh giữ một kho báu khổng lồ của người Hời (người Chăm) chôn dấu ngàn năm trước . Và sự thực là có nhiều nhân chứng đã khẳng định câu chuyện ly kỳ này .

Cặp bạch Xà canh giữ kho báu Chăm
Cặp bạch Xà canh giữ kho báu Chăm (ảnh minh họa)

Lời đồn “vàng sống” 

Bất cứ ai đến chùa Hoa Tiên (Phan Rang ,Ninh Thuận) đều ngỡ ngàng trước một cây đại thụ nằm giữa sân che bóng mát cho ngôi cổ tự. Người dân sở tại quen gọi là cây cốc. Thân cây sần sùi bằng vòng ôm của nhiều người, gốc rễ u mấu, cành lá sum suê, tỏa bóng một không gian rộng lớn. Tương truyền, trước khi lập nên chùa Hoa Tiên thì cây cốc đã mọc sừng sững ở đó rồi. Tính đến nay, cây cũng phải tuổi thọ hàng trăm năm. 

Trước đây, từng có nhiều người muốn đốn hạ cây để xây dựng nhà hát nhưng không hiểu sao khi đưa các loại máy móc tới thì chúng lại không thể nào hoạt động được. Nhiều người còn đưa cả máy ủi đến để hy vọng “san bằng” được cây, nhưng khi máy được đưa đến thì cũng bỗng dưng chết máy. Không thể tìm được cách đốn hạ nên cuối cùng chủ đầu tư đành phải “đổi ý” xây dựng nhà hát sang bên cạnh. 

Nhưng điều lôi cuốn và khiến khách phương xa tò mò nhất đó chính là lời đồn đại về kho vàng bạc, châu báu được chôn giấu dưới gốc cây. Nhiều người dân quả quyết rằng, ban đêm họ thường thấy ánh vàng sáng rực di chuyển xung quanh “thần mộc”.

Họ đồn rằng, “vàng từ dưới đất chui lên hóa dạng con gà đi ăn”... nhưng khi nghe tiếng động hoặc thấy bóng dáng con người là “đàn gà vàng” biến mất trong nháy mắt. Lại có người thấy vàng đi giữa đường liền vồ đến ôm nhưng khi mang về nhà nhìn kỹ thì lại hóa ra... cục đá. Tuy vậy, cũng có không ít người may mắn đào được buồng cau, nải chuối, tượng Phật bằng vàng... 

“Có những người đi làm về khuya tận mắt nhìn thấy những đồng tiền vàng cứ bay qua bay lại lấp lánh xung quanh gốc đại thụ nhưng khi tìm đến thì lại không thấy nữa. Nhiều lần như vậy nên người dân tin rằng số vàng đó đã “có linh khí” và có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác”, cụ Nguyễn Hoàng Lộc (gần 70 tuổi, nhà gần chùa Hoa Tiên) cho biết.
Nhiều người còn tin rằng những đàn gà vàng đi ăn trong đêm chính là vong hồn của những trinh nữ bị chôn sống theo kho vàng hóa thân mà thành. 

Thầy Thích Chơn Đạo giảng giải thêm, trong văn hóa người Chăm trước kia có rất nhiều giai thoại về việc sử dụng bùa ngải để trấn giữ những thứ quý giá của riêng mình hoặc của dòng tộc. Và hình thức “yểm bùa” bằng trinh nữ cũng đã từng được sử dụng. Linh hồn sẽ không được đầu thai nên sẽ phải làm “thần giữ của” mãi mãi cho đến khi lời nguyền được hóa giải. 

Không biết thông tin về kho vàng có bao nhiêu phần trăm sự thực nhưng nó đã từng khiến không ít kẻ nổi lòng tham muốn chiếm đoạt. Câu chuyện được đích thân nhà văn Quách Tấn viết lại trong cuốn “Xứ Trầm hương” rằng, dưới thời Pháp thuộc, Công sứ Bréda từng tới làng yêu cầu đào gốc cây để tìm vàng. Người trong làng sợ linh mộc bị đốn hạ thì tai họa xảy đến nên quyết liệt phản đối. “Phép vua thua lệ làng”, viên công sứ đành thối nhượng. Nhưng cũng có người cho rằng, vị Công sứ Pháp kia đã gặp phải những giấc mơ quái đản, bị oan hồn thiếu nữ hành hạ nên đã sợ hãi mà từ bỏ ý định. 

Không chỉ có vị Công sứ Pháp có ý định tìm kho báu mà sau này từng có mấy người Chăm ở Phan Rang cũng tìm đến chùa. Họ trưng giấy tờ của ông bà để lại và xin được phép đào gốc cây cốc để tìm của “gia bảo”. Nhưng nhà chùa nhất định khước từ.

Đáng sợ hơn có những kẻ bất chấp lệnh cấm mà cố tình đào bới nên đã gặp phải những tai ương, bỗng dưng bị bệnh “ngơ ngơ ngẩn ngẩn” nằm liệt giường, thậm chí có kẻ bỏ mạng mà không hiểu lí do. Người dân tin rằng đó là do hồn ma trinh nữ trừng trị những kẻ dám mạo phạm đến kho báu. 

Chùa Hoa Tiên
Chùa Hoa Tiên


Bạch xà hộ vệ 

Đã có thời những ngôi mộ cổ của người Chăm khắp vùng Bình Đình, Khánh Hòa bị những kẻ săn tìm kho báu xới tung, “kho vàng” dưới gốc cây cốc đại thụ cũng bị không ít kẻ để ý dòm ngó. Thế nhưng bên cạnh niềm tin về sự bảo vệ của những “oan hồn trinh nữ”, người dân địa phương còn tin rằng kho vàng linh thiêng được một cặp rắn thần canh giữ suốt đêm ngày. Chính vì thế dù có thèm muốn “nhỏ dãi” cũng không có người nào dám cả gan làm bậy. 

Thầy Thích Chơn Đạo dẫn tôi vào một gian mật thất bí mật, nơi nhà chùa lưu giữ pho tượng cổ “lồi” lên từ gốc cây cốc. Sự tích pho tượng Phật lồi này cũng là một điều kỳ lạ. Truyền rằng, một hôm tại gốc cây đại thụ bỗng xuất hiện 2 tượng Phật kì dị. Có người tin rằng đó chính là tượng trấn yểm kho báu của người Chăm nhưng theo thời gian đã tự “lồi” lên mặt đất. Khi nhà sư trụ trì chùa đem vào thờ trong chính điện thì trong đêm một pho tượng biến mất, pho tượng còn lại bị rơi từ trên cao xuống đất, đầu lìa khỏi thân. 

Ly kỳ hơn kể từ ngày đó, nhiều người trong chùa nhìn thấy một cặp rắn khổng lồ thoắt ẩn thoắt hiện xung quanh “linh thụ”. Cặp bạch xà dài tới 4 thước và trên đỉnh đầu có mào đỏ rực như lửa. Không chỉ những vị sư thầy ở chùa mới may mắn được gặp mặt “rắn ông, rắn bà” mà những người dân sống gần chùa cũng nhiều lần “hội ngộ” với “rắn thần”. Bà Trần Thị Lạc (67 tuổi, nhà gần chùa Hoa Tiên) kể lại, khi còn con gái, trong một lần đi xem kịch nói về, bà Lạc kinh hãi khi phát hiện một con rắn khổng lồ đang uốn mình trên cây cốc ở trước cổng chùa. Nhưng “rắn thần” không tấn công mà chỉ nhìn bà một lúc rồi trườn đi mất. 

Cũng theo lời vị sư trụ trì thì những lời đồn đại về kho vàng chôn giấu dưới gốc cây đại thụ là có thật, tuy nhiên việc tìm được kho báu không phải là điều đơn giản. Bởi lẽ, ngoài việc được những oan hồn trinh nữ bảo vệ, bạch xà canh gác thì những kho báu của người Chăm thường được chôn giấu theo một trận đồ “ngũ hành bát quái” bí mật. Do đó, nếu muốn lấy được vàng thì phải đoán biết chính xác đến từng khắc về thời gian cũng như quy luật vận hành tương xung tương khắc của kì trận. 

“Càng khó khăn hơn khi thời gian đã trải qua tới mấy trăm năm. Quy luật vận hành dưới lòng đất nên rất có thể trận đồ này đã biến hóa không còn như lúc nó được chôn giấu nữa”, thầy Thích Chơn Đạo chia sẻ. Có một thời gian người dân xung quanh chùa nhìn thấy lá cây cốc trước chùa bỗng nhiên đổi màu vàng rực cả cây. Điều này khiến cho giả thuyết về sự tồn tại của kho báu được củng cố. Nhiều người cho rằng do dưới gốc cây có kho báu bằng kim loại khiến cho cây không tìm được nguồn dinh dưỡng nên mới héo úa. Chỉ có điều một thời gian sau, lá cây lại bỗng dưng xanh tốt trở lại(?). 

Ngoài ra, trên bề mặt thân cây cốc còn có những hình thù kì lạ mà theo như thầy Thích Chơn Đạo cho biết: “Những hình trên gốc cây này đã có cách đây mấy trăm năm rồi. Kỳ thú hơn là những hình xù xì đó trông rất giống cảnh các vị Chư Phật đang cúi đầu trước Đạt Ma Sư Tổ”. Cho đến bây giờ, câu hỏi có hay không một kho vàng dưới gốc cây cốc đại thụ vẫn là một ẩn số. Thế nhưng có một điều chắc chắn là cây cốc cùng với ngôi cổ tự nhiều trăm năm tuổi kia đã trở thành một chứng tích của thời gian, một “kho báu” trong lòng những người dân nơi đây.








Chủ đề liên quan : Kho báu , kho vàng người Chăm , kho báu Chăm Pa


KÌ LẠ BIỂN XẺ ĐÔI

Không chỉ xuất hiện trong Kinh Thánh , chuyện kì lạ này còn xuất hiện thật ở Hàn Quốc .

Biển xẻ đôi ở Hàn Quốc
Biển xẻ đôi ở Hàn Quốc

Nhiều người khi nhắc tới con đường vượt biển nổi tiếng đều nghĩ ngay đến "thần tích" tìm về vùng đất Thánh của người Do Thái do nhà tiên tri Moses dẫn đầu. Trong truyền thuyết, khi bị quân đội Ai Cập truy đuổi, Moses đã dùng quyền năng tạo ra con đường đất xuyên biển Đỏ để giải cứu dân tộc mình.

Cho đến nay, nhiều người vẫn nghĩ rằng những con đường như thế chỉ xuất hiện trong thần thoại. Thực tế đã chứng minh điều ngược lại: trên thế giới hoàn toàn có một địa điểm giống như vậy. Đó chính là con đường đất đá rộng lớn nối liền hai hòn đảo Jindo và Modo ở Hàn Quốc cùng hiện tượng biển tách làm đôi đầy bí ẩn và hấp dẫn.

Con đường giữa biển khơi bao la này dành phần lớn thời gian trong năm ngủ say dưới đại dương sâu thẳm. Tuy nhiên cứ hai đến ba lần một năm (thường vào khoảng tháng 3 và tháng 6), nó lại nhô lên mặt nước và trở thành điểm du lịch hút khách bậc nhất Hàn Quốc.

Niềm tự hào du lịch của Hàn Quốc
Niềm tự hào du lịch của Hàn Quốc

Theo tiết lộ của người dân địa phương, con đường có chiều dài khoảng 2,9 km và rộng khoảng 40 m. Những ngày xảy ra hiện tượng biển tách làm đôi để lộ ra con đường giữa biển, nơi đây lại đón hàng trăm nghìn lượt du khách ghé thăm. Họ cùng nhau đi trên con đường kỳ ảo, thong thả ngắm cảnh vật, chụp ảnh lưu niệm hay thậm chí là bắt sò, ốc, rong biển... mà không hề sợ hãi việc con đường bị sụt xuống hay xảy ra bất trắc gì.

Con đường kỳ lạ cùng hiện tượng vô cùng thú vị của tự nhiên này trở thành kho báu bí mật của Hàn Quốc cho đến năm 1975, Pierre Randi - vị đại sứ Pháp lúc bấy giờ - trải nghiệm cảm giác trông thấy biển chia làm đôi. Ông đã mô tả lại những điều trông thấy trên một tờ báo Pháp và gọi con đường này là "phép lạ của Moses". Câu chuyện của Pierre thời đó đã gây ra nhiều tranh cãi nảy lửa trong giới khoa học cũng như người dân ở châu Âu.

Nhiều người lúc đó coi Pierre là kẻ nói dối. Mọi chuyện chỉ kết thúc khi các nhà khoa học Pháp tới Hàn Quốc nhằm "vạch trần" Pierre. Cuối cùng, chính họ tận mắt chứng kiến hiện tượng độc nhất vô nhị này và phải thừa nhận sự tồn tại của con đường giữa biển.

Lý do đến tận năm 1975 hiện tượng biển tách làm đôi mới được dư luận thế giới biết đến là người dân bản địa đã quen với điều này. Họ quá tin vào một truyền thuyết cổ xưa nên cảm thấy đây là một điều hoàn toàn bình thường và không có gì phải gây ồn ào hay cần thông báo cho tất cả mọi người biết.

Khung cảnh ngoạn mục
Khung cảnh ngoạn mục

Theo truyền thuyết của người Hàn Quốc, thời xưa đảo Jindo người dân thường bị hổ dữ quấy phá. Chúng vào làng và ăn thịt người dân. Trước tình cảnh đó, mọi người phải bỏ chạy sang đảo Modo. Bà lão tội nghiệp Bbyong là người duy nhất còn sót lại trong chuyến di cư đó.

Trong những ngày sống ở đảo Jindo cùng nỗi sợ hãi hổ dữ, Bbyong ngày đêm cầu nguyện thần biển cứu giúp. Động lòng trước hoàn cảnh tội nghiệp của người phụ nữ, thần biển Yongwang đã báo mộng sẽ có "cầu vồng trên biển" giúp bà chạy thoát.

Sáng hôm sau, điều kỳ diệu đã xảy ra khi Bbyong ra tới biển. Nước bỗng rẽ làm đôi và một con đường xuất hiện giữa lòng đại dương bao la. Nhờ con đường nối với đảo Modo này mà bà lão đã được đoàn tụ cùng gia đình.

Ngày nay, những người dân Hàn Quốc vẫn kể cho con cháu đời sau và du khách về câu chuyện thần thoại này. Tuy nhiên, trong mắt các nhà khoa học truyền thuyết là bằng chứng không bao giờ đủ sức thuyết phục. Theo Kevan Moffet -  giáo sư dự khuyết chuyên ngành khoa học địa chất tại đại học Texas, Mỹ thủy triều chính là một trong những nguyên nhân tạo ra hiện tượng mặt biển chia đôi.


Theo VNE


Chủ đề liên quan : Chuyện kì bí , kì lạ , Hàn Quốc , biển xẻ đôi


NÀNG TIÊN CÁ : NHỮNG CÂU CHUYỆN CÓ THẬT

Không chỉ xuất hiện trong chuyện cổ Andersen , những mẩu chuyện thật được kể lại từ những nhân chứng sống về người Cá , từ lâu đã khiến cộng đồng và các nhà Khoa học đau đầu tìm lời giải .

Người Cá liệu có thật
Người Cá liệu có thật

Một nàng tiên cá đã thực sự xuất hiện tại Israel năm 2009. Tin tức này nhanh chóng trở thành hiện tượng thu hút mạnh mẽ dư luận khắp Israel, tạo nên “cơn sốt nàng tiên cá” tại nước này vào thời điểm đó.

Nàng tiên cá dường như đã thực sự xuất hiện tại một bãi biển nhỏ ở Kiryat Yam. Người dân địa phương và khách du lịch lúc đó đã rất xúc động khi chứng kiến người cá này xuất hiện và biến mất nơi đại dương.

Người phụ nữ với chiếc đuôi cá rất đẹp, ban đầu bị nhầm là du khách đang tắm nắng. Nhưng khi nhìn gần hơn, người ta phát hiện chiếc đuôi này. Cô gái sau đó lặn mất tăm cho đến khi mặt trời khuất dạng.

Người dân địa phương biết rằng họ đã được thấy nàng tiên cá thực sự, khởi đầu “cơn sốt” tại Israel. Sau lần đó, nhiều người khác cũng tuyên bố nhìn thấy người cá này. Cô chỉ xuất hiện vào lúc hoàng hôn và dường như đang chơi trò trốn tìm với những người tò mò, bởi cô sẽ ngay lập tức biến mất trước bất kì ai đến gần.

Thị trấn Kiryat Yam đã thu hút lượng lớn khách du lịch sau “cơn sốt nàng tiên cá” này, họ thậm chí còn trao giải thưởng 1 triệu USD cho người bắt được nàng tiên cá giống như trên phim.

Người Cá Israel rất đẹp
Người Cá Israel rất đẹp

Những trường hợp xuất hiện nàng tiên cá khác

Một người kể lại việc cha cô đã thật sự nghe thấy tiếng hát của nàng tiên cá từ trong sâu thẳm đại dương. Khi đó, ông và các thủy thủ đi cùng trên một con tàu và nghe được tiếng hát quyến rũ phát ra trên những con sóng. Một số người thậm chí nhảy ra khỏi tàu trong trạng thái bị thôi miên.

Ngoài khơi bờ biển Nam Cực từng có người nhìn thấy người cá, hay theo người Nhật gọi là “Ningen”. Những sinh vật biển này có vẻ rất giống con người, nhưng nước da trắng bệch.

Trở lại với thời Trung cổ, vào thế kỷ XII người ta đánh bắt được một người cá ngoài khơi gần lâu đài Orford, Suffolk, Anh. Chủ nhân của lâu đài bắt giữ người cá này trong khoảng sáu tháng, nhưng sau đó người cá trốn thoát được và trở về đại dương. Theo câu chuyện này, người cá rất lặng lẽ, không bao giờ nói một lời nào với những người bắt cóc và chỉ ăn cá.

Ở Dyfed, mười hai người đã nhìn thấy nàng tiên cá xinh đẹp bơi lội dưới biển. Cô có cơ thể như một phụ nữ xinh đẹp nhưng nửa phía dưới lại là chiếc đuôi màu đen đang vung vẩy. Sự kiện này xảy ra vào tháng 7/1826 và vẫn được nhắc đến trong nhiều năm sau đó.

Vào năm 2002, xảy ra vụ việc liên quan đến nàng tiên cá ở Zimbabwe. Một công nhân đang làm việc tại hồ chứa bị nàng tiên cá kéo đi và không bao giờ quay trở lại. Dường như tất cả các công nhân đều khiếp sợ và không dám trở lại làm việc. Vì vậy, để giải quyết vấn đề này người ta đã nấu bia truyền thống để dâng cho các nàng tiên cá và xoa dịu họ.

Công nhân bị nàng tiên cá kéo đi
Công nhân bị nàng tiên cá kéo đi

Tại British Columbia, Canada, một vụ chạm trán nàng tiên cá đã xảy ra vào năm 1967, khi có người nhìn thấy một người phụ nữ với chiếc đuôi cá heo. Cô có mái tóc vàng lộng lẫy, bị phát hiện khi đang ăn cá hồi. Một số khách du lịch thực sự nhìn thấy nàng tiên cá này từ vịnh Active Pass. Người dân thị trấn thả các loại hạt cho nàng tiên cá, nhưng từ đó về sau người ta không còn nhìn thấy cô nữa.

Hàng trăm năm qua, người Anh luôn bắt gặp nàng tiên cá. Một câu chuyện đặc biệt hấp dẫn từng được đăng trên báo Anh năm 1810 kể về hai em bé người cá được tìm thấy trên Isle of Man. Khi đó, hai ngư dân trong câu chuyện này nghĩ rằng họ nghe thấy âm thanh giống như tiếng chim hoặc loài động vật nào đó kêu cứu. Họ đi về phía phát ra tiếng động và tìm thấy hai em bé người cá, chỉ có một đứa trẻ còn sống nhưng bị thương. Họ đưa đứa trẻ về nhà chăm sóc. Em bé người cá có chiều dài khoảng 60 cm, mang hình hài một đứa trẻ với chiếc đuôi cá và mái tóc giống rong biển…thậm chí có màu xanh lục. Em ăn những con trai mà ngư dân cho, đôi khi uống nước hoặc sữa.

Em bé Người Cá
Em bé Người Cá

Những truyền thuyết và câu chuyện về người cá

Dĩ nhiên, niềm tin vào nàng tiên cá đã tồn tại trước các bộ phim trình chiếu về họ. Và niềm tin này đã tồn tại từ hàng ngàn năm trước, không  hẳn bắt nguồn từ Israel.

Tại Ireland và một số nơi ở Scotland, nàng tiên cá được gọi là merrow. Những câu chuyện về sinh vật khó nắm bắt này xuất hiện trở lại vào thế kỷ thứ 9. Câu chuyện được kể nhằm cảnh báo người dân địa phương về sự nguy hiểm của merrow (hoặc merfolk).

Vào các thế kỷ trước, nhiều thủy thủ tin rằng sự xuất hiện nàng tiên cá báo hiệu điều khủng khiếp sắp xảy ra, có thể là một cơn bão dữ dội hay vụ đắm tàu hoặc cả hai. Đôi khi merfolk bị liên tưởng như một nhân vật phản diện, có thể chính là người gieo bão làm đắm các con tàu, hay giống như ác quỷ ăn các thủy thủ bị chết đuối. Huyền thoại nàng tiên cá hầu như khác xa với câu chuyện “Little Mermaid” mà trẻ em biết đến trong thời hiện đại. Thường thì trẻ em ở Anh, Ireland và Scotland được cảnh báo không nên đến quá gần hồ, sông ngòi, thậm chí cả giếng nước có liên quan đến các merrow.

Sự xuất hiện của Nàng tiên cá đem đến nhiều điều khủng khiếp
Sự xuất hiện của Nàng tiên cá đem đến nhiều điều khủng khiếp

Những người nhìn thấy người cá thật sự ở Ireland và Scotland nói rằng các nữ  merrow thường rất đẹp còn nam merrow thì ngược lại. Đó là lý do nhiều người tin rằng nữ merrow sẽ rời khỏi ngôi nhà đại dương để kết hôn và sinh sống với con người. Các nàng tiên cá có mái tóc dài màu xanh lá cây, bàn tay có màng trắng. Người ta thường nhìn thấy hình ảnh họ ngồi trên tảng đá hay bờ biển và dùng tay chải vuốt mái tóc.

Siren là nàng tiên cá của Hy Lạp có tài năng lạ thường và đầy mê hoặc. Họ sống trên một hòn đảo ở biển Địa Trung Hải, họ thu hút các thủy thủ bằng tiếng hát mê hoặc của mình. Tiếng ca tuyệt vời và quyến rũ khiến các thủy thủ mất kiểm soát và con tàu đâm vào các bãi đá. Trong một số câu chuyện, không phải tất cả Siren đều là nàng tiên cá, họ có thể là một phụ nữ với đôi cánh chim. Tuy nhiên, hầu hết những câu chuyện và hình ảnh ngày nay thể hiện Siren Hy Lạp dưới dạng nàng tiên cá.

Selkie trong truyền thuyết Orkney được mô tả tương tự như một dạng của nàng tiên cá. Khi ở trong nước, họ sở hữu cơ thể người cá nhưng khi lên bờ họ có thể cởi lớp da để trở thành con người. Nhiều truyền thuyết kể về nữ Selkie, họ kết hôn với con người và chỉ rời đi sau khi nghe được tiếng gọi từ ngôi nhà trong đại dương. Truyền thuyết kể rằng nếu một người đàn ông có thể giấu hoặc phá hủy lớp da mà Selkie cởi ra thì cô ấy sẽ là vợ của anh ta. Nhưng nếu cô tìm thấy lớp da đó thì có thể cô sẽ trở về biển cả mãi mãi. Nếu một người phụ nữ muốn cưới namSelkie thì cô phải khóc cho bảy giọt nước mắt rơi vào biển khơi và anh ta sẽ đến với cô.

Những truyền thuyết về người cá xuất hiện trong nhiều thế kỷ và không thể dự đoán được liệu họ có biến mất trong thế kỷ tới hay không. Liệu người cá có thực sự tồn tại hay đã từng tồn tại ở một thời điểm nào đó trong lịch sử? Thông thường những truyền thuyết bắt nguồn từ một phần của sự thật, hoặc cũng có thể hoàn toàn là sự thật.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg


Theo Tinhhoa